Chương 4 và 5. Chọn loại thỏa thuận và giới hạn chuyển nhượng

Mua lại bởi công ty, kết hợp hay mua chéo, và các quyền như ưu tiên mua, bán kèm, kéo theo, cùng cách gỡ bế tắc khi chỉ có hai chủ.

Tóm tắt

Chương 4 và 5 là hai chương về chọn loại thỏa thuận và đặt giới hạn chuyển nhượng. Hood so sánh các yếu tố giữa mua lại bởi công ty, kết hợp và mua chéo qua ví dụ MythiCo, rồi đi qua định nghĩa chuyển nhượng, bán bắt buộc, quyền ưu tiên mua, bán kèm, kéo theo và cách gỡ bế tắc.

Ý chính

  • Định nghĩa chuyển nhượng thật rộng.
  • Quyền chọn vô nghĩa nếu người có quyền không có tiền.
  • Quyền bán kèm bảo vệ người thiểu số.
  • Quyền kéo theo giúp người đa số bán cả công ty.

Áp dụng ngay hôm nay

Hỏi luật sư của bạn: nếu một đồng chủ mất ngày mai, ai có tiền để mua phần của họ.

Loại thỏa thuận nào hợp với bạn?

Các yếu tố cân nhắc giữa mua lại bởi công ty, kết hợp và mua chéo:

  • Số lượng chủ: nhiều hơn 3 hoặc 4 chủ thì mua chéo trở nên cồng kềnh.
  • Tính chất và quy mô công ty: công ty lớn, có thu nhập đều thì hợp với mua lại hoặc kết hợp. Loại hình công ty cũng ảnh hưởng tới thuế.
  • Giá trị công ty: giá trị cao thì cần dòng tiền của công ty để mua. Nếu giá trị sổ sách chênh nhiều với giá thị trường thì cần định giá chuyên nghiệp.
  • Tỷ lệ sở hữu và tuổi tác: thế hệ lớn tuổi thường nắm phần lớn hơn; chủ trẻ cần tiền của công ty để mua.
  • Tài chính của các chủ: người chủ yếu về tài chính không gánh nổi mua chéo.
  • Lo ngại về việc thực thi: nếu sợ có người nuốt lời, sách viết rằng điều đó bất lợi cho mua lại bởi công ty và cho mua chéo có người được ủy thác.
  • Muốn có basis mới: mua chéo cho người mua một cơ sở tính thuế bằng giá đã trả; mua lại bởi công ty thì không.
  • Khác biệt về sức khỏe và khả năng được bảo hiểm: mua lại bởi công ty chia đều chi phí bảo hiểm.
  • Mức độ gắn bó: nếu có chủ không gắn bó thì dùng mua chéo hoặc kết hợp, để chủ gắn bó có thể mua trực tiếp.
  • Tài sản công ty có dùng được không: ví dụ nhà thầu xây dựng phải giữ mức vốn và tài sản tối thiểu để được bảo lãnh, nên hợp với mua chéo.
  • Luật tiểu bang hạn chế công ty ít vốn tự mua lại phần sở hữu.
  • Hạn chế trong hợp đồng vay.
  • Quan hệ gia đình: nhiều gia đình hoặc anh em họ cùng sở hữu thì hợp với mua chéo, hoặc chia thành các loại cổ phần khác nhau.
  • Giấy phép hành nghề.
  • Loại hình công ty: C corp gia đình lo bị tính là cổ tức thì nên mua chéo.
  • Xung đột lợi ích của cố vấn và luật sư (nên ghi rõ trong thư thỏa thuận dịch vụ).

Ví dụ MythiCo về thay đổi tỷ lệ. Với mua chéo: Betty mất, Al, Charlene và Dave mua đều nhau, mỗi người thành một phần ba. Nếu chỉ một mình Dave (nhà đầu tư) phải mua thì Dave lên 50% trong khi người khác giữ 25%. Như vậy mua chéo có thể làm lệch tỷ lệ. Mua lại bởi công ty thì luôn tăng tỷ lệ của các chủ còn lại theo đúng tỷ lệ cũ: Al mất, ba người còn lại mỗi người 33⅓%.

Một biến thể. Một biến thể: Dave 40%, ba người kia mỗi người 20%. Charlene mất và công ty mua lại phần của cô. Dave lên 50%, Al và Betty mỗi người 25%. Quyền kiểm soát đã dịch chuyển. Al và Betty có thể thương lượng một quyền bán với Dave nếu Dave đạt từ 50% trở lên (xem chương 5).

Mua chéo có người được ủy thác hoặc người giữ hộ (trusteed/escrowed cross-purchase). Một người trung lập thực hiện việc mua và giữ cho phí bảo hiểm được đóng đều. Cách này phòng trường hợp một chủ không chịu mua hoặc để hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực.

Một công ty hợp danh hoặc LLC riêng đứng ra giữ bảo hiểm. Pháp nhân riêng này (thường có công ty ủy thác chuyên nghiệp làm quản lý) giữ các hợp đồng bảo hiểm, được nuôi bằng khoản góp vốn bắt buộc của các chủ. Việc chuyển hợp đồng bảo hiểm giữa các thành viên của nó không bị dính quy tắc chuyển nhượng có giá trị (transfer-for-value rule). Quy tắc này nói đơn giản là: nếu một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị chuyển cho người khác để đổi lấy giá trị, tiền bảo hiểm nhận về có thể bị đánh thuế thu nhập, trừ một số ngoại lệ.

Mua lại bởi công ty thì công ty vừa là một bên ký vừa là người mua (MythiCo là C corp: Al mất, Betty, Charlene và Dave mỗi người thành 33⅓%). Kết hợp thì cả công ty và các chủ đều có quyền, quyền này đứng sau quyền kia. Người mua có thể đổi theo từng sự kiện (ví dụ các chủ mua chéo khi có người mất, công ty mua lại trong các trường hợp khác), hoặc chia phần sở hữu cho cả công ty và các chủ.

Các văn bản đi kèm: thỏa thuận không cạnh tranh và giữ bí mật riêng; hợp đồng lao động (giữ định nghĩa như "lý do chính đáng" giống hệt nhau giữa các văn bản); thỏa thuận thù lao hoãn lại (ít gặp); kế hoạch chỉ trả quyền lợi khi mất (death-benefit-only), trong đó công ty trả cho người thừa kế một khoản theo công thức, ví dụ ba lần lương cuối hoặc cố định 100.000 USD, với điều kiện người chủ sở hữu không quá 50%; hợp đồng tư vấn cho chủ nghỉ hưu, gắn với cam kết không cạnh tranh.

Giới hạn, chuyển nhượng, các quyền và quyền chọn

Định nghĩa "chuyển nhượng" thật rộng. Cấm mọi việc chuyển nhượng không được cho phép rõ ràng. Phân biệt cho chuẩn: quyền chọn (option) là được làm, nghĩa vụ (obligation) là phải làm. Việc chuyển nhượng giữa các chủ với nhau có rủi ro cho người thiểu số vì có thể làm dịch chuyển quyền kiểm soát, nên đi kèm một quyền bán.

Mẫu điều khoản. Sách đưa mẫu điều khoản "Cấm chuyển nhượng nói chung; vô hiệu tuyệt đối": không được chuyển, để lại theo di chúc, cầm cố... trừ khi thỏa thuận cho phép. Việc chuyển nhượng sai quy định là vô hiệu và không được ghi vào sổ. Một phương án khác là biến phần đó thành phần sở hữu không có quyền biểu quyết, đồng thời cho công ty hoặc các chủ quyền mua lại với giá chiết khấu. Lệnh cấm tuyệt đối thường không thực thi được vì bị coi là hạn chế thương mại, nhưng quyền ưu tiên mua tối thiểu thì có giá trị.

Người được nhận chuyển nhượng (các chủ khác, quỹ tín thác có thể hủy ngang, con cháu, quỹ tín thác cho vợ hoặc chồng, người đủ điều kiện): hãy cẩn thận, trừ khi bạn sẵn sàng làm ăn với họ.

Quyền chọn vô nghĩa nếu người có quyền không có tiền. Ví dụ MythiCo: Dave mất, Al, Betty và Charlene không đủ tiền mua, thế là gia đình Dave, cụ thể là con trai Eric, thành đồng chủ. Cách khắc phục là dùng bảo hiểm nhân thọ hoặc cho phép trả góp.

  • Quyền bán (put): người chủ ép công ty hoặc các chủ mua phần của mình theo giá hoặc cách tính giá đã định. Có thể chỉ cho kích hoạt khi quyền kiểm soát dịch chuyển, ví dụ Al, Betty và Charlene có thể ép Eric mua lại phần của họ.
  • Quyền mua (call): quyền, không phải nghĩa vụ, mua theo giá đã định trong một thời hạn. Ví dụ Dave được quyền mua cổ phần của những người khác nếu họ không đạt các mốc đã hẹn.
  • Quyền bán và mua đan nhau (cross puts and calls): gia đình người mất có quyền bán trong thời hạn nhất định, rồi công ty hoặc các chủ có quyền mua. Cách này linh hoạt hơn kiểu bắt buộc mua bán.

Bán bắt buộc. Thường áp dụng khi có người mất, trừ khi gia đình muốn con cháu nối nghiệp. Các sự kiện "người xấu" (bad boy), như bị sa thải vì lý do chính đáng (cạnh tranh, tiết lộ bí mật kinh doanh, trộm cắp hoặc chiếm dụng, bị kết án hình sự nghiêm trọng hoặc mất giấy phép), có thể buộc người đó phải bán mà không buộc ai phải mua.

Tặng hoặc để lại theo di chúc có thể được phép, kèm điều kiện: người chuyển vẫn là tiếng nói đại diện cho gia đình, phần đã chuyển vẫn bị thỏa thuận ràng buộc, không được chuyển tiếp, người nhận và vợ hoặc chồng của họ phải đồng ý.

Cầm cố, thế chấp thường bị cấm. Nếu bên cho vay đòi cầm cố thì đặt một sự kiện mua lại khi tài sản bị siết nợ. Bị tịch thu hoặc chuyển nhượng không tự nguyện (chủ nợ, người quản lý tài sản phá sản): buộc bán cho công ty hoặc các chủ với giá thấp hơn hoặc điều kiện trả dễ hơn. Sách gọi đây là "thuốc xua chủ nợ". Bên cho vay thường đòi quyền của họ được ưu tiên hơn.

Quyền ưu tiên mua khi có người ngoài trả giá (right of first refusal, ROFR): người có quyền được mua bằng đúng giá người ngoài đưa ra. Quyền này làm phần sở hữu khó bán hơn, vì người trong công ty được "ăn theo" công thẩm định của người ngoài. Nên ghi rõ quy tắc giá, thường là giá thấp hơn giữa giá người ngoài và giá theo thỏa thuận. Có thể kết hợp với quyền bán kèm (tag-along).

Quyền được chào bán trước (right of first offer): người bán phải thương lượng thiện chí với người trong công ty trước, sau đó mới được bán ra ngoài (trừ khi có ROFR hoặc quyền xem lần cuối). Quyền này vô nghĩa với những chủ ít tiền, nên cho họ một quyền bán nếu người ngoài mua vào.

Quyền xem lần cuối (right to last look): người trong công ty được mua bằng một lời đề nghị tốt hơn, một lần hoặc mỗi lần có đề nghị.

Quyền bán kèm (tag-along put): người thiểu số được bán cùng người đa số với cùng giá mỗi phần. Ví dụ Dave nắm 70% và bán cho người ngoài.

Quyền kéo theo (drag-along call): người đa số có thể buộc người thiểu số bán theo cùng điều kiện để hoàn tất thương vụ bán 100%.

Cách gỡ bế tắc khi chỉ có hai chủ:

  • Russian roulette: một người đưa ra giá, người kia chọn mua hay bán ở giá đó. Tác giả khuyên dùng hạn chế, vì người giàu hơn có lợi thế. Cách này hợp hơn khi do người ngoài đề xuất. Sách minh họa bằng ví dụ Frank và Gordon.
  • Texas hoặc Mexican shoot-out: mỗi người nộp giá kín, trả toàn bộ bằng tiền mặt, cho một bên thứ ba. Ai trả cao hơn thì mua. Công bằng hơn Russian roulette nhưng vẫn lợi cho người nhiều tiền.
  • Dutch auction: mỗi người nộp kín giá bán tối thiểu của mình. Ai có giá tối thiểu cao hơn thì thắng và mua, trả cho người kia đúng giá người kia đã ghi.

Chuyển nhượng được đồng ý bằng văn bản: các chủ có thể nhất trí miễn áp dụng. Nên dùng rất ít, vì miễn nhiều lần có thể khiến tòa (hoặc IRS) coi như thỏa thuận đã bị sửa hoặc bị bỏ.

Câu hỏi thường gặp

Quyền bán kèm và quyền kéo theo khác nhau thế nào?

Theo sách, quyền bán kèm cho người thiểu số được bán cùng người đa số với cùng giá mỗi phần. Quyền kéo theo cho người đa số buộc người thiểu số bán theo cùng điều kiện để bán trọn công ty cho người mua.

Quyền ưu tiên mua hoạt động ra sao?

Khi có người ngoài trả giá, người có quyền được mua bằng đúng giá và điều kiện đó trước. Sách cũng nêu quyền được chào bán trước và quyền xem lần cuối, mỗi loại cân bằng khác nhau giữa người bán và người trong công ty.

Nội dung này có thay cho tư vấn pháp lý không?

Không. Đây là thông tin chung về luật Mỹ theo ấn bản của sách. Luật khác nhau giữa các bang và thay đổi theo thời gian, và các con số về thuế, phí hay mức miễn trừ có thể đã cũ. Trước khi ký hay nộp giấy tờ, hãy hỏi luật sư hoặc kế toán nơi bạn kinh doanh.