Chương 7 và 8. Thỏa thuận mua chéo và thỏa thuận kết hợp

Mua chéo đơn giản hơn về thuế nhưng rối khi nhiều chủ. Kết hợp và kiểu chờ rồi tính để quyết người mua sau, khi có sự kiện.

Tóm tắt

Chương 7 và 8 là hai chương về thỏa thuận mua chéo và thỏa thuận kết hợp. Hood nêu ưu nhược điểm của mua chéo, hậu quả thuế đơn giản hơn, cách dùng người được ủy thác hay pháp nhân giữ bảo hiểm, rồi giải thích kiểu kết hợp, ai giữ bảo hiểm và thỏa thuận chờ rồi tính.

Ý chính

  • Mua chéo cho người mua basis mới.
  • Nhiều chủ thì số hợp đồng bảo hiểm tăng rất nhanh.
  • Pháp nhân giữ bảo hiểm gỡ được sự rối đó.
  • Chờ rồi tính để quyết người mua khi có sự kiện.

Áp dụng ngay hôm nay

Đếm số hợp đồng bảo hiểm cần có nếu công ty bạn dùng mua chéo, rồi so với phương án một pháp nhân giữ bảo hiểm.

Thỏa thuận mua chéo

Các chủ là người mua. Ở đây các chủ, không phải công ty, là người mua. Tác giả vẫn luôn đưa công ty vào làm một bên ký trong mọi thỏa thuận, vì cần cho các giới hạn của S corp và các điều khoản ở cấp công ty. Ví dụ: Betty mất, Al, Charlene và Dave mua cổ phần của cô theo tỷ lệ đã hẹn (mặc định là chia đều). Cũng có thể thiết kế cho một người, ví dụ Dave giàu hơn, mua nhiều hơn. Mua lại bởi công ty không có sự linh hoạt này.

Ưu điểm:

  • Nghĩa vụ mua có thể không theo tỷ lệ. Dave một mình mua phần của Al thì Dave thành 50%, hai người kia 25%; nếu công ty mua lại thì ba người đều 33⅓%.
  • Basis mới cho người mua bằng giá đã trả, làm giảm lãi vốn sau này.
  • Bảo hiểm không đè lên vốn lưu động và tín dụng của công ty.
  • Người bán giữ được cách tính lãi vốn, không bị đổi thành cổ tức.
  • Bảo hiểm không thổi phồng giá trị công ty.
  • Hợp đồng bảo hiểm an toàn trước chủ nợ của công ty.
  • Không bị giới hạn mua lại và vốn theo luật tiểu bang.
  • Quy tắc quy gán gia đình (mục 318) không áp dụng.

Nhược điểm:

  • Số hợp đồng bảo hiểm bằng n × (n−1). Sáu chủ là 30 hợp đồng.
  • Mua lại bởi công ty có thể tốt hơn khi phần sở hữu tăng giá nhiều và được giữ tới lúc mất (nhiều basis hơn, có mục 303).
  • Các chủ có thể muốn công ty đóng phí hơn.
  • Phí bảo hiểm chênh lệch theo tuổi và tỷ lệ sở hữu. Có thể bù bằng thưởng hoặc lương, nhưng phải tôn trọng giới hạn lương hợp lý và quy tắc một loại cổ phần của S corp. Chủ đa số có thể thích mua chéo để người thiểu số tự bỏ tiền mua phần của mình.
  • Rủi ro chuyển nhượng có giá trị. Ngoại lệ chỉ có khi chuyển cho chính người được bảo hiểm, cho một thành viên hợp danh của người đó, cho công ty hợp danh mà người đó là thành viên, hoặc cho công ty cổ phần mà người đó là cổ đông hoặc cán bộ. Không có ngoại lệ giữa cổ đông với cổ đông. Al không thể giao an toàn về thuế các hợp đồng trên mạng sống của mình cho Betty, Charlene và Dave, trừ khi họ cũng là thành viên hợp danh với nhau. Cách làm là mua hợp đồng mới.
  • Hợp đồng bị lộ trước chủ nợ riêng và chuyện ly hôn của các chủ (công ty thì không ly hôn).
  • Không có gì bảo đảm hợp đồng còn hiệu lực và không bị cầm cố. Nên thỏa thuận rằng các bên đóng phí, báo cho người được bảo hiểm mỗi lần đóng, không cầm cố, và phải dùng tiền bảo hiểm để mua.
  • Một người chủ có thể không có tiền đúng lúc cần.
  • Công ty không vay được dựa trên các hợp đồng này.
  • Thỏa thuận không có nguồn tiền hoặc chỉ là quyền chọn sẽ có lợi cho người giàu hơn.
  • Mất quyền hoãn thuế theo mục 6166.
  • Phí đóng bằng tiền sau thuế, có thể ở mức thuế cá nhân cao hơn mức của C corp.

Hậu quả thuế: đơn giản hơn mua lại bởi công ty. Với C corp hay S corp, có hay không có bảo hiểm: mỗi người mua có basis mới bằng giá trả (cổ phần cũ giữ basis cũ, tính theo từng cổ phần); công ty không có hậu quả gì; người bán có lãi vốn trên phần vượt basis (rất ít nếu bán sau khi mất nhờ basis được nâng); chủ không mua thì không có gì. Lãi của giấy nợ mua có thể được trừ, gốc thì không. Tiền bảo hiểm miễn thuế nếu không dính quy tắc chuyển nhượng có giá trị. Ví dụ: cổ phần của Charlene trị giá 150.000 USD; Al, Betty và Dave mỗi người mua 50.000 USD nhờ tiền bảo hiểm, basis mỗi người 50.000 USD.

Với hợp danh hoặc LLC: bán từ 50% trở lên không còn làm chấm dứt công ty về thuế. Lãi của người bán gồm cả phần được giải phóng khỏi nợ công ty. Khoản phải thu, hàng tồn kho và khấu hao phải thu hồi là thu nhập thường, khai ngay năm bán (bất lợi hơn với công ty dịch vụ; cẩn thận khi dùng giấy nợ). Năm thuế của người bán trong công ty kết thúc. Thu nhập trong năm đó được chia bằng cách khóa sổ hoặc chia theo ngày, nên ghi rõ trong thỏa thuận. Các ví dụ về Dave giống chương 6 (lãi 550.000 USD; trong ví dụ phức tạp là 500.000 USD thu nhập thường và 50.000 USD lãi vốn). Người mua cộng giá mua và nợ gánh thêm vào một basis bên ngoài gộp chung (không tính theo từng phần). Chủ không mua có thể bị thuế nếu người ra đi gánh nợ công ty: Dave gánh 300.000 USD nợ thì basis của mỗi chủ khác giảm 100.000 USD; gánh 750.000 USD thì mỗi người lãi 50.000 USD. Lựa chọn 754 có hai mặt và khó rút lại. Bản có bảo hiểm: phí không được trừ, tiền bảo hiểm miễn thuế.

Mua chéo có người được ủy thác. Người được ủy thác hoặc người giữ hộ nắm một hợp đồng cho mỗi chủ, đóng phí, nhận tiền bảo hiểm, giao cổ phần và trả tiền cho gia đình người mất. Cách này giảm số hợp đồng và giúp lúc chuyển nhượng ban đầu. Nhưng với công ty cổ phần, việc sau đó chuyển quyền lợi cho những người còn sống có thể bị coi là chuyển nhượng có giá trị. Chưa có hướng dẫn chính thức (thành viên hợp danh và LLC thì có ngoại lệ rõ). Còn vài câu hỏi thuế khác chưa có lời giải.

Mua chéo qua một pháp nhân giữ bảo hiểm (LLC hoặc hợp danh chuyên giữ bảo hiểm, không phải công ty cổ phần): một hợp đồng cho mỗi chủ; người quản lý trung lập; các chủ góp vốn để đóng phí. Cách này tránh quy tắc chuyển nhượng có giá trị nhờ các ngoại lệ của mục 101 (chuyển cho hợp danh và chia cho thành viên được bảo hiểm), và tránh việc người thừa kế giữ hợp đồng. Nó cần luật sư thuế giỏi. Văn bản quản trị phải bắt buộc góp vốn hằng năm, buộc mỗi người mua bảo lãnh phần thiếu, không cho người được bảo hiểm quyền kiểm soát hợp đồng trên mạng sống của chính mình, và cho phép chia hợp đồng về cho người được bảo hiểm nếu thỏa thuận không bao giờ dùng tới (ví dụ công ty đã bán).

Thỏa thuận kết hợp

Gộp hai kiểu. Kiểu kết hợp gộp mua lại bởi công ty và mua chéo để có sự linh hoạt. Dạng phổ biến là chờ rồi tính (wait-and-see). Một số cách dùng:

  • Các chủ tự giữ bảo hiểm để mua khi có người mất, còn công ty là người mua chính trong các trường hợp khác (ví dụ chấm dứt hợp đồng lao động).
  • Khi nghỉ hưu hoặc mất khả năng làm việc, người chủ có quyền chọn bán cho công ty, cho các chủ, hoặc cả hai.
  • Có quyền mua đối với chủ bị sa thải vì lý do chính đáng hoặc vì trộm cắp.
  • Cùng lúc cho công ty mua một phần và các chủ mua chéo phần còn lại.
  • Quyết định ai mua dựa trên tiền mặt, thuế và luật ở thời điểm đó.

Một cách chia phần. Với C corp, có thể cho công ty chỉ mua lại phần đủ điều kiện theo mục 303 và để các chủ còn sống mua phần còn lại. Nếu công ty không đủ vốn thì các chủ mua. Thứ tự quyền chọn cần cân nhắc: các chủ trước (thường theo tỷ lệ) rồi tới công ty, hoặc công ty trước rồi tới các chủ.

Ai giữ bảo hiểm. Người có nghĩa vụ mua phải là chủ hợp đồng và người thụ hưởng. Nếu công ty giữ hợp đồng mà các chủ mua, công ty có thể cho các chủ vay tiền bảo hiểm ở mức lãi tối thiểu của IRS (lãi suất liên bang áp dụng). Đây là cách đơn giản nhất. Công ty cũng có thể chia tiền đó ra, nhưng các chủ phải chịu thuế, nên đây là cách tồi. Nếu các chủ giữ hợp đồng mà công ty mua lại, các chủ có thể cho công ty vay ở mức lãi tối thiểu hoặc góp vốn (không bị thuế, tăng basis, không có thu nhập lãi).

Thuế tùy người mua. Hậu quả thuế theo chương 6 (công ty mua) và chương 7 (các chủ mua). Với công ty cổ phần, công ty nên là bên có nghĩa vụ đầu tiên. Nếu ngược lại, việc công ty mua những cổ phần mà cổ đông đã có nghĩa vụ mua sẽ tạo ra cổ tức ngầm (constructive dividend), bị đánh thuế như thu nhập thường. Điều này tốn kém nếu công ty có lợi nhuận tích lũy.

Thỏa thuận chờ rồi tính. Giá (hoặc công thức, hoặc cách định giá) và các sự kiện kích hoạt đã định sẵn, chỉ để lại chuyện ai mua. Trình tự điển hình khi có người mất:

  • Công ty có quyền mua một phần hoặc toàn bộ, ví dụ trong 60 ngày.
  • Các chủ còn sống có quyền mua (ví dụ 30 ngày) phần công ty không mua, theo tỷ lệ hoặc theo thỏa thuận.
  • Công ty bắt buộc phải mua phần còn lại.

Luôn có người mua. Trình tự này bảo đảm gia đình người mất luôn có người mua ở giá đã định. Với công ty cổ phần, phải theo đúng thứ tự này để tránh cổ tức ngầm.

Câu hỏi thường gặp

Ưu điểm chính của mua chéo là gì?

Theo sách, hậu quả thuế đơn giản hơn mua lại bởi công ty, và người mua nhận basis mới bằng giá đã trả. Nhược điểm là khi có nhiều chủ, mỗi người phải mua bảo hiểm cho từng người khác, nên số hợp đồng tăng rất nhanh.

Thỏa thuận chờ rồi tính là gì?

Theo sách, giá hoặc cách định giá và các sự kiện kích hoạt được định trước, chỉ để lại chuyện ai mua. Khi có người mất, công ty thường có quyền mua trước, ví dụ trong 60 ngày. Sách nói đây là kiểu linh hoạt nhất và được dùng nhiều nhất.

Nội dung này có thay cho tư vấn pháp lý không?

Không. Đây là thông tin chung về luật Mỹ theo ấn bản của sách. Luật khác nhau giữa các bang và thay đổi theo thời gian, và các con số về thuế, phí hay mức miễn trừ có thể đã cũ. Trước khi ký hay nộp giấy tờ, hãy hỏi luật sư hoặc kế toán nơi bạn kinh doanh.