Chương 5. Khi một thành viên ra đi: mua lại và duy trì doanh nghiệp

Có lẽ là chương quan trọng nhất: ai mua, định giá thế nào, trả tiền ra sao. Chương 5 bàn về điều khoản mua bán, định giá, khai trừ và chấm dứt hợp danh.

Tóm tắt

Chương 5 là chương tác giả gọi là có lẽ quan trọng nhất. Nó bàn về điều khoản mua bán khi một thành viên ra đi, các cách định giá doanh nghiệp, cách trả tiền cho người ra đi, khai trừ thành viên, giữ doanh nghiệp tiếp tục, bảo hiểm và kế hoạch di sản, rồi cách chấm dứt hợp danh.

Ý chính

  • Ba câu hỏi: ai mua, giá bao nhiêu, trả thế nào.
  • Quyền ưu tiên mua bảo vệ những người ở lại.
  • Giá trị sổ sách thường bỏ qua giá trị thật.
  • Phải báo bằng văn bản cho mọi chủ nợ khi chấm dứt.

Áp dụng ngay hôm nay

Cùng các thành viên chọn trước một cách định giá và một thời hạn trả tiền, rồi ghi vào thỏa thuận khi mọi người còn vui vẻ.

Khi một thành viên ra đi: mua lại và duy trì doanh nghiệp

Chương quan trọng nhất. Tác giả gọi đây có lẽ là chương quan trọng nhất (Điều 8 đến Điều 10). Có ba vấn đề cơ bản:

  • Hợp danh hoặc những người ở lại có quyền (hay nghĩa vụ) mua lại phần của người ra đi không. Đây là thỏa thuận mua bán (buy-sell agreement).
  • Nếu không có người mua bên ngoài thì định giá thế nào.
  • Trả tiền ra sao.

Tình huống cần bàn. Những tình huống nên đem ra bàn: lý do ra đi có quan trọng không (bệnh, hay bỏ đi Hawaii); bán cho một người ngoài mà cả nhóm không ưa; nghỉ phép dài hạn và khai trừ; định nghĩa mất khả năng làm việc và ai quyết; bệnh tâm thần, Alzheimer, qua đời; nghiện rượu hoặc ma túy; ly hôn khiến vợ hoặc chồng có một phần; tất cả cùng muốn giữ doanh nghiệp; người thừa kế muốn có tiền mặt nhanh. Khi soạn, hãy đứng ở cả hai phía: người đi và người ở lại.

Điều khoản mua bán

Để mua bán trong thỏa thuận. Nên để phần mua bán ngay trong thỏa thuận hợp danh, hiếm khi cần văn bản riêng. Một số bang từng vô hiệu hóa điều khoản mua lại khi chết vì coi nó giống di chúc, nên hãy kiểm tra luật địa phương. Sách Business Buyout Agreements của Nolo nói chi tiết về mua lại khi mất khả năng làm việc.

Quyền ưu tiên mua (right of first refusal). Người ra đi muốn bán cho người ngoài thì phải chào bán cho những người ở lại với đúng điều kiện của lời đề nghị thật từ bên ngoài, trong X ngày. Cách này chặn người ngoài không mong muốn và chặn trò dựng lời đề nghị giá cao giả. Nó cũng tránh phải thanh lý bắt buộc, vì doanh nghiệp bị thanh lý bán được ít hơn khi còn đang chạy. Cách thay thế là không có quyền ưu tiên, chỉ có một phương pháp định giá cố định: người ở lại vui, nhưng không công bằng với người đi.

Quyền mua. Điều khoản cho những người ở lại quyền chọn (không phải nghĩa vụ) mua khi có bất kỳ ai ra đi: tự bỏ, rút lui, bị khai trừ, nghỉ hưu, mất khả năng, qua đời, hoặc phần vốn bị chuyển đi ngoài ý muốn hay đem cho. Quyền này đi sau quyền ưu tiên mua. Bản cho hai người thì ghi "người chủ còn lại". Tất cả thành viên cùng đồng ý thì có thể bỏ qua các quy tắc này.

Khi không ai chịu mua. Cách sách ưu tiên: nếu những người ở lại không mua trong một thời hạn (thường là sáu tháng), cả doanh nghiệp được đem bán. Họ phải mua hoặc mất luôn phần của mình. Ép buộc mua thì không thực tế: không có tiền, kiện tụng, và như câu thành ngữ "không thể vắt máu từ cục đá".

Báo trước khi rút. Đặt thời gian báo trước. Chế tài có thể là giảm giá 10-20% hoặc kéo dài thời gian trả tiền (ghi vào phần định giá và thanh toán). Có thể miễn nếu mọi người đồng ý.

Bế tắc chuyện ai mua. Mặc định của UPA là thanh lý, và đa số có thể khai trừ thiểu số. Các cách định sẵn: tung đồng xu, hoặc đấu giá giữa các thành viên. Ví dụ Bob và Skip với bến du thuyền: giá trả tăng từ 166.000 lên 170.000 USD cho một doanh nghiệp trị giá 320.000-340.000 USD, ai trả cao nhất thì mua. Cần có điều khoản giá và thanh toán riêng.

Định giá doanh nghiệp

Phần khó nhất. Đây là phần khó nhất. Không có phương pháp nào tốt hơn hẳn. Hãy thống nhất ngay bây giờ, khi chưa ai ra đi. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ hoặc mới không cần thẩm định cầu kỳ: có thể nhờ chuyên gia thẩm định, hoặc dùng "quy tắc ngón tay cái" của người cùng ngành, hoặc tham khảo Handbook of Business Valuation.

Xem lại theo thời gian. Hãy xem lại điều khoản khi doanh nghiệp lớn lên. Giá mua lại quá cao có thể buộc phải thanh lý. Tính giá cùng lúc với điều kiện trả (trả theo tháng thì có thể chịu giá cao hơn một chút). Thử với các dự phóng lợi nhuận, ví dụ 50.000 USD và 500.000 USD. Ở các nghề dịch vụ dựa vào khách quen (kiến trúc sư, thợ làm tóc), người ra đi mang theo khách, nên chủ yếu chỉ định giá tài sản cố định. Các phương pháp:

Định giá theo tài sản (mặc định của UPA). Giá trị ròng = giá thị trường của tài sản hữu hình + tiền mặt + khoản phải thu đòi được + phí đã làm mà chưa xuất hóa đơn + việc đang làm dở, trừ đi nợ. Người ra đi nhận theo tỷ lệ sở hữu. Ví dụ Lou, Wilbur và George mở tiệm sửa máy tính, giá trị ròng 150.000 USD, phần một phần ba của Lou là 50.000 USD, dù mỗi năm anh nhận 60.000 USD từ lợi nhuận bình quân 180.000 USD. Theo Kamoroff, doanh nghiệp nhỏ "phố chợ" thường chỉ bán được giá hàng tồn và đồ đạc. Phương pháp này bỏ sót uy tín thương mại (goodwill), tức kỳ vọng có cơ sở rằng khách sẽ tiếp tục quay lại: mạnh ở bán lẻ và nhà hàng, yếu ở người hành nghề dịch vụ cá nhân. Hợp với doanh nghiệp mới hoặc dựa vào tài sản. Có mẫu "Điều chỉnh phương pháp định giá" sau N năm và "Điều chỉnh để tính cả uy tín thương mại".

Giá trị sổ sách và tài khoản vốn. Giá trị sổ sách là giá mua ghi trong sổ. Tác giả khuyên không dùng, vì bỏ qua giá trị thật, uy tín thương mại và phí chưa xuất hóa đơn. Dùng tài khoản vốn làm giá cũng là ý tồi, vì giá trị phụ thuộc vào kết quả kinh doanh chứ không phải số tiền đã bỏ vào.

Giá cố định thỏa thuận. Các thành viên tự thống nhất một mức giá, hằng năm, trong vòng (ví dụ) 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính, bằng văn bản và đồng thuận. Nếu năm nào không chốt được thì lấy mức cao hơn giữa giá lần trước và giá trị ròng. Có thể thêm tỷ lệ tăng trưởng ước tính hằng năm. Hợp với doanh nghiệp dịch vụ ít tài sản, với các thành viên chỉ cần doanh nghiệp sống sót (một công ty vận tải dùng mức giá thấp cố định cho trường hợp qua đời), và hợp danh bất động sản. Ưu điểm: đơn giản, công bằng vì tự thỏa thuận, và buộc mọi người nói chuyện về giá trị đều đặn.

Thẩm định sau khi ra đi. Thuê chuyên gia thẩm định độc lập: chỉ định sẵn, hoặc mỗi bên chọn một người và nếu hai người lệch nhau thì người thứ ba quyết, chi phí chia nhau, bắt đầu trong X ngày. Nhược điểm: chậm, tốn tiền, khó đoán, các bản thẩm định có thể chênh nhau. Hợp nhất khi có thị trường mua bán sôi động và mọi người tin chuyên gia. Đừng áp tiêu chí cho chuyên gia.

Vốn hóa lợi nhuận. Giá trị = lợi nhuận bình quân trong một giai đoạn × hệ số nhân. Ví dụ Ace Furniture: 2 × 213.000 USD lợi nhuận bình quân = 426.000 USD. Phương pháp này cần có uy tín thương mại và vài năm số liệu (giai đoạn đầu dùng phương pháp khác). Bốn yếu tố:

  • Đo lợi nhuận nào: ròng hay gộp. Thu nhập tiền mặt không khai và các khoản chi tùy ý có thể làm lệch số. Một số luật sư dùng doanh thu gộp, tác giả thích lợi nhuận ròng nếu được tính công bằng.
  • Giai đoạn: 3-7 năm.
  • Hệ số nhân: thử với các dự phóng. Một cố vấn nói không bao giờ quá 3. Có chuẩn ngành cho xây dựng, bán lẻ, nhà hàng, nhưng kinh tế thay đổi. Nếu dùng doanh thu gộp thì hệ số là một phân số, ví dụ một phần ba.
  • Các khoản khác: cộng thêm tài sản cố định hoặc tài khoản vốn. Tránh ra một mức giá mà không ai trả nổi.

Mẫu vốn hóa. Sách có mẫu điều khoản vốn hóa: lợi nhuận bình quân trong giai đoạn xác định nhân hệ số, có thể cộng tài sản cố định trừ nợ.

Thay đổi giá theo hoàn cảnh. Giá có thể khác nhau theo thời điểm, ví dụ chỉ trả theo giá sổ sách nếu ai đó rời đi trong 1-2 năm đầu. Hoặc theo lý do, như ví dụ các kiến trúc sư: cao nhất khi mất khả năng làm việc, nghỉ hưu sau 65 tuổi hoặc qua đời (có bảo hiểm chi trả); thấp hơn khi bỏ đi theo một giấc mơ không liên quan tới kiến trúc; thấp nhất khi bỏ đi mà vẫn hành nghề (khách sẽ đi theo), và thấp hơn nữa nếu hành nghề trong cùng quận. Có thể phạt khi không báo trước, ví dụ chỉ trả nửa giá. Phần này bạn tự viết điều khoản.

Bảo hiểm làm thước đo giá. Tiền bảo hiểm mất khả năng hoặc tử vong chính là giá trị phần của thành viên đó. Cách định giá này rất dễ.

Ly hôn. Vợ hoặc chồng có thể có quyền với phần vốn theo chế độ tài sản chung (community property) hoặc chia tài sản công bằng (equitable distribution). Hãy để vợ/chồng của các thành viên ký văn bản đồng ý rằng phương pháp định giá trong thỏa thuận được áp dụng. Phải chắc là họ hiểu thật, và làm lại khi một thành viên kết hôn sau này.

Thuế di sản. Mức miễn thuế liên bang là 11.580.000 USD mỗi người vào năm 2020 (điều chỉnh theo lạm phát). IRS chấp nhận giá trong điều khoản định giá nếu: người thừa kế bắt buộc phải bán; những người ở lại bắt buộc (hoặc có quyền) mua; khi còn sống thành viên không được bán phần của mình mà chưa chào cho những người kia; và đây là giao dịch sòng phẳng giữa các bên độc lập, không phải một món quà trá hình.

Chấm dứt về thuế. Theo Bộ luật Thuế §708(a), hợp danh bị coi là chấm dứt về mặt thuế nếu không thành viên nào còn kinh doanh, hoặc nếu từ 50% vốn và lợi nhuận trở lên bị bán trong vòng 12 tháng. Hỏi chuyên gia thuế nếu một thành viên nắm từ 50% trở lên (quy tắc riêng cho trường hợp 50-50, xem Chương 8).

Đừng bỏ cuộc. Lời động viên của tác giả: thống nhất phương pháp từ trước giúp tránh kiện tụng, và luật sư nào rồi cũng sẽ bắt các bạn tự quyết thế nào là công bằng.

Trả tiền cho người ra đi

Giá đi cùng điều kiện trả. Giá và điều kiện trả đi liền với nhau: thời hạn trả dài thì người mua sẵn lòng trả giá cao hơn. Nếu không có lịch trả, UPA cho phép người ra đi đòi trả đủ ngay. Ví dụ Eric và Jack: con gái của Eric đòi trả ngay, Jack phải bán căn nhà đang ở.

Cân bằng hai bên. Hãy đặt điều kiện vừa giữ doanh nghiệp sống được, vừa trả cho người đi trong thời gian hợp lý. Thường là 2-5 năm, khoản đầu lùi khoảng 90 ngày. Các lựa chọn: trả góp đều hằng tháng theo giấy nhận nợ (promissory note), có hoặc không tính lãi, có hoặc không xếp sau nợ ngân hàng; trả một khoản lớn trước rồi góp đều hằng tháng; trả tiền mặt ngay (không khuyên dùng); hoặc vay ngân hàng. Thỏa thuận chỉ là mức sàn, sau này các bên có thể đồng ý khác (nhớ ghi lại bằng văn bản).

Nợ của người ra đi. Người ra đi vẫn chịu trách nhiệm với chủ nợ về các khoản nợ tới ngày ra đi. Hợp danh có thể nhận gánh và cam kết bồi hoàn cho người đó (hold harmless), nhưng điều này chỉ có tác dụng nếu hợp danh còn tài sản.

Khai trừ thành viên

Hiếm nhưng cần. Hiếm gặp ở hợp danh nhỏ (vì cần đồng thuận, người ta thường giải tán luôn), nhưng hợp danh lớn cần có điều khoản. Tòa ngại thi hành các lý do mơ hồ (ví dụ "sức khỏe"), nên hãy đặt tiêu chí rõ ràng. Ghi ngưỡng biểu quyết (ví dụ 3/4 số thành viên có quyền bỏ phiếu, hoặc những người nắm 60% vốn) và các lý do. Có hiệu lực khi có thông báo bằng văn bản. Người bị khai trừ được trả theo cách định giá bình thường, để giảm cay đắng.

Phá sản. Theo UPA, một thành viên phá sản làm hợp danh giải thể. Nên có điều khoản khai trừ thành viên khi phá sản, mất khả năng thanh toán, chuyển tài sản cho chủ nợ, bị chỉ định người quản lý tài sản, hoặc bị kê biên mà không gỡ được trong N ngày, và doanh nghiệp tiếp tục.

Loại khỏi trọng tài. Có thể cân nhắc quy định quyết định khai trừ là cuối cùng, không đưa ra trọng tài hay xem xét lại (có chút rủi ro tòa sẽ soi kỹ hơn).

Duy trì hợp danh

Cho doanh nghiệp đi tiếp. Nên có điều khoản "Hợp danh tiếp tục", để việc qua đời, mất khả năng, nghỉ hưu, rút lui hay bị khai trừ không làm hợp danh giải thể và thanh lý. Giải thể chính thức có thể kéo theo thuế trên tài sản được chia và phải bán tháo giá rẻ.

Không cạnh tranh. Giới hạn việc người ra đi mở cơ sở cạnh tranh trong thời gian và phạm vi địa lý hợp lý. Ví dụ tiệm bánh doughnut: 1 dặm và 2 năm là được, 100 dặm và 10 năm thì không. Hạn chế càng có cơ sở khi người đó được dạy một kỹ năng đặc biệt. Tòa diễn giải các điều khoản này rất chặt, nên hãy hỏi luật sư địa phương.

Ai giữ tên doanh nghiệp. Bốn mẫu: hợp danh giữ tên; một thành viên sở hữu tên; quyết sau (tung đồng xu hoặc trọng tài); đa số thành viên cũ sở hữu tên khi giải thể. Có thể áp dụng tương tự cho bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu, số điện thoại, giấy phép.

Bảo hiểm và kế hoạch di sản

Bảo hiểm để mua lại. Mua bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn (term life) và bảo hiểm mất khả năng lao động để có tiền mua lại khi một thành viên qua đời. Có thể quy định tiền bảo hiểm chính là giá phần vốn. Hai cách:

  • Mua chéo (cross-purchase): các thành viên mua bảo hiểm cho nhau. Tốt hơn cho hợp danh nhỏ, và tránh việc tiền bảo hiểm làm phình giá trị hợp danh.
  • Hợp danh đứng tên hợp đồng: tiện hơn khi nhóm đông (mua chéo sẽ rất rối). Ghi rõ chỉ giá trị hoàn lại tiền mặt (cash surrender value) là tài sản của hợp danh.

Hợp đồng bảo hiểm cũ. Người ra đi có thể nhận lại hợp đồng bảo hiểm của mình (hoàn lại giá trị hoàn lại tiền mặt). Phí bảo hiểm nói chung không được khấu trừ thuế. Phối hợp với kế hoạch di sản của từng người: chỉ định quỹ tín thác hoặc vợ/chồng làm người thụ hưởng, không chỉ định "di sản", để tránh thủ tục thừa kế qua tòa. Sách có tài liệu tham khảo về quỹ tín thác lúc còn sống.

Chấm dứt hợp danh

Ba giai đoạn kết thúc. Hai thuật ngữ cần biết: thu dọn (winding up) và giải thể (dissolution). Thỏa thuận lo phần cơ bản, còn các việc lặt vặt thì dùng một văn bản chấm dứt riêng. Ba giai đoạn:

  • Giải thể: quyết định kết thúc, không nhận việc mới. Có thể gửi thông báo bằng văn bản cho các mối quan hệ, hoặc đăng ký ở văn phòng lưu trữ hồ sơ của quận.
  • Thu dọn: các thành viên vẫn có quyền để đóng cửa doanh nghiệp, và vẫn chịu trách nhiệm theo UPA §34.
  • Chấm dứt thật sự.

Báo chủ nợ. Phải báo cho mọi chủ nợ bằng văn bản (UPA §35). Nếu không, chủ nợ ngay tình vẫn có thể bắt các thành viên chịu trách nhiệm. Sách có mẫu thư thông báo. Nếu hợp danh không trả nổi nợ và có thành viên mất khả năng thanh toán, những thành viên còn khả năng phải góp vào theo tỷ lệ chia lãi.

Mẫu thỏa thuận chấm dứt (AT & KC Associates). AT mua 49% phần của KC bằng giấy nhận nợ 5.500 USD kèm cam kết bồi hoàn. KC nhận các khoản thanh toán bảo đảm (1.000 USD/tháng). Tỷ lệ chia lãi chuyển thành 99/1. Cho phép cạnh tranh. Bảo hiểm tiếp tục, và KC nhận lại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của mình. Có các điều về hợp đồng thuê, quyền vào văn phòng, giới hạn dùng tên, bước hai mua nốt 1% cuối và thanh lý, kiểm sổ, công khai các khoản nợ, quyết toán tài khoản, hiệu lực tiếp tục của các cam kết, và người kế thừa.

Tòa tuyên giải thể (UPA §32). Tòa có thể giải thể hợp danh khi có thành viên bị tòa tuyên mất năng lực, mất khả năng, có hành vi gây hại, vi phạm cố ý hoặc lặp đi lặp lại, lỗ liên tục, hoặc các lý do công bằng khác. Ví dụ: không góp vốn, không báo cáo doanh số, chiếm đoạt tài sản, cãi nhau triền miên, say xỉn, cờ bạc. Theo sách, những vụ kiện như vậy là thảm họa và khó thắng, còn một điều khoản khai trừ giúp tránh được chúng.

Câu hỏi thường gặp

Quyền ưu tiên mua là gì?

Theo sách, đó là điều khoản buộc người ra đi muốn bán cho người ngoài phải chào bán cho những người ở lại với đúng điều kiện đó trước. Nó giúp nhóm tránh phải làm việc với một người mới mà không ai mong muốn.

Có những cách định giá nào?

Sách nêu định giá theo tài sản, giá trị sổ sách, giá cố định thỏa thuận hằng năm, thẩm định sau khi ra đi, vốn hóa lợi nhuận và dùng tiền bảo hiểm làm thước đo. Tác giả khuyên không dùng giá trị sổ sách vì nó bỏ qua giá trị thật của doanh nghiệp.

Nội dung này có thay cho tư vấn pháp lý không?

Không. Đây là thông tin chung về luật Mỹ theo ấn bản của sách. Luật khác nhau giữa các bang và thay đổi theo thời gian, và các con số về thuế, phí hay mức miễn trừ có thể đã cũ. Trước khi ký hay nộp giấy tờ, hãy hỏi luật sư hoặc kế toán nơi bạn kinh doanh.