Chương 1. 1962

Tóm tắt

Xin cha tiền, bán bách khoa toàn thư ở Hawaii, rồi đứng trước lãnh đạo một hãng giày Nhật và quên sạch bài chuẩn bị. Cái tên công ty ra đời từ một câu buột miệng.

Ý chính

  • Một ý tưởng nhỏ trên giấy có thể thành kế hoạch đời người nếu mình dám mang nó đi.
  • Bị từ chối là chuyện khó, nhưng nói thật và dựa vào con số thì người ta nghe.
  • Muốn làm ăn ở nơi khác, phải học cách người ở đó giao tiếp.
  • Khi chưa sẵn sàng, cứ trả lời thật và tự tin, phần còn lại sẽ tới.

Áp dụng ngay hôm nay

Trước một cuộc gặp quan trọng, chuẩn bị ba con số chứng minh ý tưởng của bạn. Lỡ quên bài thì vẫn còn số để nói.

Phần Một (Part One)

Lời đề từ của Phần Một lấy từ Qua tấm gương soi (Through the Looking-Glass) của Lewis Carroll: phải chạy nhanh gấp đôi thì mới tới được một nơi khác.

Thuyết phục người cha. Knight chọn lúc chập tối để ngỏ lời với cha, khi ông đang thư giãn trước tivi xem Wagon Train, Rawhide hay Red Buttons. Cha anh là chủ báo Oregon Journal, sống ở khu Eastmoreland, Portland.

Nguồn gốc của Ý tưởng điên rồ. Ý tưởng sinh ra từ một bài luận trong lớp chuyên đề khởi nghiệp ở Stanford. Bài lập luận rằng giày chạy Nhật có thể làm với giày Đức đúng như máy ảnh Nhật đã làm với máy ảnh Đức. Bạn cùng lớp thấy chán ngắt, còn giáo sư cho điểm A. Từ đó anh cứ nghĩ mãi về chuyện sang Nhật chào hàng một công ty giày.

Kết hợp với chuyến vòng quanh thế giới. Anh ghép ý tưởng ấy với một chuyến đi vòng quanh thế giới trước khi ổn định: muốn thăm những nơi linh thiêng, tìm sự kết nối viết hoa, thứ mà người ta gọi là Đạo, Logos, Dharma hay Tinh thần.

Chuyện tiền. Anh dành dụm được khoảng 1.500 đô la từ lương quân đội, việc làm mùa hè và tiền bán chiếc MG đời 1960. Anh cần thêm 1.000 đô la từ cha.

Người cha. Cha anh theo giáo hội Episcopal, ám ảnh với sự đáng kính, nhưng bên trong có những hỗn loạn riêng: có những cuộc gọi đêm khuya từ câu lạc bộ báo người nhà tới đón ông về. Ông gọi Phil là "Buck". Thật bất ngờ, ông đồng ý, vì chính ông hối tiếc chưa từng đi xa. Phil nhận ra chuyến đi cũng là một cách để bớt giống cha mình.

Bối cảnh thời đó. Năm 1962, 90% người Mỹ chưa từng đi máy bay. Cứ 27 công ty mới thì 26 công ty thất bại.

Gia đình. Bà ngoại, Mom Hatfield ở Roseburg, Oregon, sợ nước Nhật sau Thế chiến II. Anh nhớ những buổi phát thanh "tin vui tối nay" của Gabriel Heatter và những lát táo ăn cùng ông ngoại Pop Hatfield. Hai em gái sinh đôi Jeanne và Joanne dửng dưng. Mẹ anh im lặng nhưng âm thầm ủng hộ.

Đàn ngỗng bay hình chữ V. Khi lên kế hoạch, anh nghĩ tới đàn ngỗng bay hình chữ V, nơi những con dẫn đầu làm việc vất vả nhất. Anh rủ Carter, bạn học Stanford, từng chơi bóng rổ, đeo kính và mê đọc sách. Carter thích lịch trình (Hawaii, Tokyo, Hồng Kông, Ấn Độ, Nepal, Cairo, Istanbul, Athens, Jerusalem, Nairobi, Rome, Paris, Berlin, London...) và tham gia nhờ một khoản vay từ cha mình.

Bộ vest xanh. Anh mang theo một bộ vest xanh lá tốt hiệu Brooks Brothers, để phòng khi Ý tưởng điên rồ thành hiện thực. Ngày 7 tháng 9 năm 1962, hai người lái xe theo đường I-5 tới San Francisco, ở nhờ nhà bạn bè, rồi ghé Stanford.

Honolulu. Vé một chiều tới Honolulu giá 80 đô la. Họ ở một nhà nghỉ ở Waikiki, rồi thuê chung một căn phòng nhỏ 100 đô la một tháng; Carter được giường thật, Phil nằm chiếc giường gấp mà anh gọi là "tấm bàn ủi". Rồi họ đổi kế hoạch: ở lại và đi bán bách khoa toàn thư từng nhà. Phil quá nhút nhát, bị từ chối là chuyện rất khó với anh.

Ký ức đội bóng chày. Anh nhớ lại hồi bị loại khỏi đội bóng chày năm nhất trung học, buồn suốt hai tuần, cho tới khi mẹ bảo anh buồn thế là đủ rồi và gợi ý anh thử điền kinh. Anh phát hiện mình chạy được, và đó là thứ không ai lấy đi được.

Bán quỹ đầu tư. Anh chuyển sang Investors Overseas Services, một phòng chào bán qua điện thoại của Bernard Cornfeld, bán chứng chỉ quỹ Dreyfus. Lối chào hàng trung thực, dựa trên con số lại bán được: chỉ trong một tuần anh kiếm đủ tiền thuê nhà sáu tháng. Anh lui tới những quán rượu bình dân với dân lang thang bãi biển, thấy mình khá tự mãn vì được sống ở chốn này.

Hai giọng nói bên trong. Khủng hoảng tên lửa Cuba khiến anh tưởng thế giới sắp tận. Nó qua đi, và sự bồn chồn quay lại. Carter đã gặp một cô gái và muốn ở lại. Phil nghe hai giọng nói trong lòng: một bảo về nhà, một bảo "Cứ đi tiếp. Đừng dừng lại." Anh nghỉ việc, mua vé mở một năm, và lên đường vào Lễ Tạ ơn năm 1962.

Tokyo. Trên chuyến bay anh lo lắng vì chuyện chiến tranh. Tokyo khi đó vẫn còn tối tăm sau những trận bom lửa. Anh ở một nhà trọ tồi tàn do một bà lão lưng còng trông coi, rồi mấy người bạn ở hãng tin UPI đưa anh sang một khách sạn tử tế. Anh đọc về Thiền: kiến tính, ngộ, lời của Đạo Nguyên rằng học về bản thân là quên bản thân, cuốn Thiền trong nghệ thuật bắn cung. Bài học: chính cái tôi là chướng ngại. Anh ghé Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (hỗn loạn, "phản Thiền"), đền Minh Trị, chợ Tsukiji, Hakone và núi Phú Sĩ, nơi anh tự hứa sẽ leo lên khi có điều gì đáng ăn mừng.

Học cách thương lượng với người Nhật. Mấy cựu quân nhân Mỹ làm ở tạp chí Importer dặn anh: người Nhật thương lượng gián tiếp, đừng làm gã ngoại quốc hung hăng. Không ai nói "không" thẳng thừng, và anh sẽ không phân biệt được đâu là có, đâu là không.

Kobe và cái tên Blue Ribbon. Anh đi bảy tiếng tàu bẩn thỉu tới Kobe, tới nhầm chỗ trước nên đến nhà máy Onitsuka muộn. Anh gặp Ken Miyazaki, được mời ngồi ghế danh dự, rồi quên sạch bài chào hàng. Khi được hỏi tên công ty, anh buột miệng: "Blue Ribbon Sports ở Portland", lấy từ những dải ruy băng xanh giải điền kinh treo trong phòng thời thơ ấu. Anh đọc lại bài luận ở Stanford. Các lãnh đạo ra ngoài, quay vào với mẫu giày Tiger (Limber Up, Spring Up, Throw Up) và hỏi về thị trường. Anh bảo nó có thể đạt một tỷ đô la. Họ đề nghị anh phân phối ở Mỹ. Anh xin hàng mẫu và hứa đặt cọc 50 đô la (nhờ cha chuyển tiền). Hai bên gác lại chuyện chiến tranh và làm ăn như những đối tác.

Vòng quanh thế giới. Tiếp theo là một chuỗi điểm dừng: Hồng Kông, Manila (dấu vết MacArthur), Bangkok, Việt Nam, Calcutta (anh ốm), những giàn hỏa táng ở Varanasi, dãy Himalaya, Bombay, Kenya, Cairo, Jerusalem, Istanbul, Rome, Florence, Milan, Venice, Paris, Munich, Đông Berlin, Vienna, London. Mỗi nơi đi kèm những câu trích, và anh ngày càng ám ảnh với đôi giày của mọi người. Ở Đông Berlin có cô gái đi giày bằng bìa các tông. Patton từng nói người lính có giày mới thì cũng chỉ là người lính.

Athens. Ở Acropolis anh có cảm giác như nhận ra điều gì quen thuộc. Đền Athena Nike, nơi thờ Athena, nữ thần bảo trợ sự thuyết phục và những người làm ăn. Có bức chạm nữ thần nghiêng người chỉnh quai giày. Sách cũng gợi tới vở "Các hiệp sĩ" (Knights) của Aristophanes.

Về nhà. Ngày 24 tháng 2 năm 1963, đúng sinh nhật 25 tuổi, anh về tới nhà trên phố Claybourne, râu ria xồm xoàm. Câu đầu tiên anh hỏi cha: "Giày của con tới chưa?"

Previous
Previous

Bình minh (Dawn)

Next
Next

Chương 2. 1963