Có người có hai mươi năm kinh nghiệm, có người lặp một năm hai mươi lần. Chương 7 của Grit nói về luyện tập có chủ đích và dòng chảy.
Tóm tắt
Chương 7 của Grit là phần Duckworth giải thích vì sao nhiều năm kinh nghiệm chưa chắc thành giỏi. Theo nghiên cứu của Anders Ericsson, chuyên gia luyện tập có chủ đích: mục tiêu vươn xa, tập trung hết mức, phản hồi ngay và lặp lại tới khi thành thạo.
Ý chính
- Kinh nghiệm không tự biến thành chuyên môn.
- Luyện tập có chủ đích có bốn thành phần rõ ràng.
- Luyện tập có chủ đích vất vả, còn dòng chảy là lúc thi đấu nhẹ nhàng.
- Biến luyện tập thành thói quen cùng giờ, cùng chỗ mỗi ngày.
Áp dụng ngay hôm nay
Chọn một kỹ năng nhỏ, đặt một mục tiêu vươn xa cụ thể cho 20 phút luyện hôm nay, và nhờ ai đó cho phản hồi ngay.
Kinh nghiệm và 10.000 giờ
Hai mươi năm kinh nghiệm hay một năm lặp hai mươi lần. Thí sinh đánh vần có grit luyện nhiều hơn, và điều đó giải thích kết quả. Nhưng nhiều người có hàng chục năm kinh nghiệm vẫn dừng ở mức "tạm được". "Có người có hai mươi năm kinh nghiệm, có người có một năm kinh nghiệm lặp lại hai mươi lần." Người Nhật có chữ kaizen, "cải tiến liên tục", tức là chống lại sự chững lại. Mọi tấm gương về grit đều toát ra tinh thần này. Hester Lacey thấy những người thành công vượt bậc có chung mong muốn dai dẳng, hướng về phía trước, là làm tốt hơn: diễn viên muốn đem điều mới vào mỗi vai, nhà văn muốn cuốn sau hay hơn cuốn trước. Đó là mong muốn lớn lên, khác với sự bất mãn. Giả thuyết: grit liên quan tới cả chất lượng chứ không chỉ số lượng thời gian bỏ ra.
Anders Ericsson và 10.000 giờ. Ericsson, "chuyên gia thế giới về các chuyên gia thế giới", đã nghiên cứu vận động viên Olympic, kiện tướng cờ vua, nghệ sĩ piano, diễn viên ballet, golf thủ, nhà vô địch Scrabble, bác sĩ X quang. Kỹ năng tăng theo đường cong học tập, mỗi ngày tăng ít dần. Trong nghiên cứu của ông ở một học viện violin ở Đức, những người giỏi nhất đã luyện khoảng 10.000 giờ trong khoảng 10 năm, gấp đôi những bạn kém hơn. Có những tiếng vọng tương tự: Martha Graham nói "mất khoảng mười năm để thành một vũ công trưởng thành"; nhân viên điện báo mất khoảng mười năm để lành nghề. Con số 10.000 giờ hay 10 năm là trung bình áng chừng, cho thấy quy mô. Điều chính là chuyên gia luyện tập khác: họ luyện tập có chủ đích.
Ví dụ chạy bộ của Duckworth. Bà chạy một tiếng mỗi ngày trong nhiều chục năm mà không nhanh hơn: không có mục tiêu cụ thể, vừa chạy vừa nghe radio NPR, không ghi chép, không thay đổi bài tập, không có huấn luyện viên. Đó không phải luyện tập có chủ đích.
Bốn thành phần của luyện tập có chủ đích
Bốn thành phần của luyện tập có chủ đích.
- Một mục tiêu vươn xa được xác định rõ, nhắm vào một khía cạnh hẹp, đánh vào điểm yếu và những thử thách chưa làm được. Rowdy Gaines cố đánh bại tốc độ mục tiêu của chính mình, ví dụ mười lần 100 yard mỗi lần 1 phút 15 giây, rồi 1 phút 14 giây. Nghệ sĩ viola Roberto Diaz: hãy tìm gót chân Achilles của mình.
- Tập trung và nỗ lực hết mức, thường là một mình. Kevin Durant dành khoảng 70% thời gian tập một mình. Với nhạc sĩ, thời gian tập một mình đoán được tiến bộ tốt hơn thời gian tập nhóm.
- Phản hồi ngay lập tức và có thông tin. Chuyên gia chủ động tìm phản hồi tiêu cực và xử lý nó. Trong chương trình huấn luyện cấp cứu tim mạch bằng thực tế ảo của Ulrik Christensen, một bác sĩ bị mắc kẹt đã làm được ngay khi được yêu cầu ngẫm xem mình không chắc ở chỗ nào. Bài tập kéo dài cho tới khi làm đúng hoàn toàn bốn lần liên tiếp.
- Lặp lại kèm suy ngẫm và tinh chỉnh tới khi thành thạo: từ chỗ biết mình kém tới chỗ giỏi mà không cần nghĩ. Rồi đặt mục tiêu vươn xa mới. Những tinh chỉnh nhỏ cộng lại thành sự thành thạo.
Áp dụng cho mọi lĩnh vực. Benjamin Franklin luyện viết bằng cách ghi chú các bài luận trên tờ Spectator, viết lại từ ghi chú, so với bản gốc, xáo trộn ghi chú để tập sắp xếp ý, chuyển văn xuôi thành thơ rồi chuyển ngược lại ("không đau thì không tiến"). Peter Drucker nói quản trị là một số ít việc làm khá đơn giản. Atul Gawande nói phẫu thuật cần luyện một việc khó ngày đêm trong nhiều năm, chứ đôi tay tài hoa thôi thì chưa đủ. Ảo thuật gia David Blaine kể trên TED về lần nín thở 17 phút: "luyện tập, rèn luyện, thử nghiệm trong khi vượt qua cơn đau".
Nghiên cứu cuộc thi đánh vần cùng học trò của Ericsson. Cách chuẩn bị của thí sinh chia ba loại: đọc sách cho vui và chơi trò chữ (Scrabble); được người hoặc phần mềm đố; và tự học một mình (học thuộc từ điển, sổ ghi từ, nguồn gốc từ). Chỉ loại thứ ba đạt tiêu chuẩn luyện tập có chủ đích. Thí sinh ghi số giờ mỗi tuần và chấm độ thích thú, độ vất vả. Người thắng là Kerry Close, 13 tuổi, năm thứ năm dự thi, ước tính đã luyện hơn 3.000 giờ, từ cuối cùng là "Ursprache". Kết quả: thí sinh có grit luyện nhiều hơn; luyện tập có chủ đích đoán việc đi xa tốt hơn mọi cách chuẩn bị khác; được đố giúp tìm ra điểm yếu (Kerry dùng nó đúng như thế), còn đọc sách cho vui thì không liên quan gì tới thành tích. Mỗi năm kinh nghiệm, thí sinh luyện có chủ đích nhiều hơn, khoảng 10 giờ mỗi tuần trong tháng trước chung kết. Các em chấm luyện tập có chủ đích là vất vả nhất và kém vui nhất; đọc sách hay chơi Scrabble vui như "ăn món mình thích nhất". Martha Graham nói con đường đó có những lúc mệt tới mức "cơ thể khóc cả trong giấc ngủ", và "những cái chết nhỏ hằng ngày". Ericsson thấy ngay cả người đỉnh cao cũng chỉ duy trì được khoảng một giờ luyện tập có chủ đích mỗi lần, ba tới năm giờ mỗi ngày, thường ngủ trưa sau khi tập, và khi nghỉ hưu thì họ thôi không tập kiểu này nữa. Judd Apatow kể làm phim mệt thế nào khi phải liên tục thử nghiệm trong trạng thái tập trung cao độ.
Luyện tập có chủ đích và dòng chảy
Dòng chảy (flow) và luyện tập có chủ đích. Mihaly Csikszentmihalyi mô tả trạng thái dòng chảy: tập trung trọn vẹn, tự nhiên, không thấy gắng sức, có lời kể của một nhạc trưởng và một vận động viên trượt băng. Ericsson cho rằng dòng chảy không đi cùng luyện tập có chủ đích được: một bên có kế hoạch, một bên tự nhiên; một bên thử thách vượt kỹ năng, một bên thử thách vừa với kỹ năng; một bên vất vả, một bên nhẹ nhàng. Csikszentmihalyi nhớ câu khắc ở cổng trường hồi ông còn ở Hungary về rễ đắng quả ngọt, và cho rằng việc học không đắng khi ta thấy nó đáng có và thể hiện con người mình. Duckworth tổ chức một buổi tranh luận giữa hai người trước khoảng 80 nhà giáo dục trong 90 phút, và cuối cùng nó thành hai bài nói riêng. Dữ liệu của bà: hàng nghìn người trưởng thành ở nhiều nghề làm Thang đo Grit và bảng hỏi về dòng chảy, và người có grit cao báo cáo nhiều dòng chảy hơn. Kết luận: người có grit luyện tập có chủ đích nhiều hơn và cũng trải qua dòng chảy nhiều hơn. Luyện tập là hành vi, dòng chảy là trải nghiệm, và hai thứ hiếm khi xảy ra cùng lúc. "Luyện tập có chủ đích là để chuẩn bị, dòng chảy là để biểu diễn." Khi luyện tập, động lực là cải thiện một kỹ năng hẹp, ở chế độ giải quyết vấn đề, phản hồi phần lớn là tiêu cực. Khi ở trong dòng chảy, động lực là niềm vui tự thân, thử thách vừa với kỹ năng, không phân tích.
Ví dụ. Rowdy Gaines bơi hơn 32.000 km (20.000 dặm) trong tám năm trước Olympic 1984 cho một cuộc đua 49 giây ("Tôi đã bơi vòng quanh trái đất"). Ông không thích tập, nhưng yêu môn bơi: "Tôi ghét tập, nhưng tôi có đam mê với bơi lội." Vận động viên chèo thuyền Olympic Mads Rasmussen nói về những lúc làm việc cực nhọc khi chẳng vui gì, và cái "À ra thế" ở cuối kéo bạn đi tiếp. Katie Ledecky phá kỷ lục thế giới 1.500 m của chính mình, nói nó "khá dễ" và ghi công cho việc tập; cô bơi từ năm 6 tuổi, tập rất dữ, có khi tập cùng nam. Bài nói TED của Duckworth cũng vậy. Khi tập dượt, Chris Anderson và Juliet Blake góp ý: quá nhiều thuật ngữ, quá nhiều slide, câu chuyện không rõ, không có hồi hộp, nói kết luận trước. Hai con gái Amanda và Lucy chỉ ra bà hay "ừm" và cắn môi. Bà viết lại và tập. Bài nói cuối cùng trông như không tốn sức. "Không ai muốn cho bạn xem hàng giờ hàng giờ của quá trình trở thành."
Người có grit có thích luyện tập có chủ đích hơn không? Trong nhật ký của thí sinh đánh vần, những em có grit cao chấm luyện tập có chủ đích là vất vả hơn và cũng vui hơn. Có hai cách giải thích. Một là "học cách yêu cảm giác rát": phần thưởng làm thay đổi cảm nhận về nỗ lực (xem chương 11). Hai là "có người thích thử thách": huấn luyện viên Bruce Gemmell kể Katie Ledecky lúc 6 tuổi cười rạng rỡ nói "Khó quá!", và cô hay lén tập thêm những bài mình yếu. Kerry Close chỉ thấy dòng chảy khi không bị thử thách, nhưng tự học một mình vẫn đem lại cảm giác được đền đáp. Đó là hai kiểu trải nghiệm tích cực khác nhau: cái phấn khích khi tiến bộ, và cái ngây ngất khi biểu diễn.
Ba gợi ý để luyện tập hiệu quả
Ba gợi ý để luyện tập có chủ đích được việc nhất.
- Hiểu khoa học. Bốn yêu cầu: mục tiêu vươn xa rõ ràng; tập trung và nỗ lực hết mức; phản hồi ngay và có thông tin; lặp lại với suy ngẫm và tinh chỉnh. Đa số người ta luyện kiểu này gần như không giờ nào mỗi ngày. Vấn đề không phải là cày số giờ: Rasmussen khuyên một đội chèo thuyền Nhật Bản tập ít giờ mà chất lượng cao. Noa Kageyama, nhà tâm lý học biểu diễn ở Juilliard, chơi violin từ năm 2 tuổi nhưng tới năm 22 tuổi mới luyện có chủ đích; hiểu khoa học giúp anh vừa tiến bộ vừa hài lòng hơn. Duckworth và học trò Lauren Eskreis-Winkler thiết kế một bài học về luyện tập có chủ đích cho trẻ, bằng tranh và chuyện kể: sau những màn trình diễn tưởng như dễ dàng trên YouTube là những giờ không ai thấy, và bực bội không phải là dấu hiệu xấu. Sau đó học sinh khuyên nhau "tập trung vào điểm yếu" và "tập trung 100%", chọn làm bài toán thay vì lướt mạng xã hội hay chơi game, và những em học yếu nâng được điểm trong học bạ.
- Biến nó thành thói quen. Cùng giờ, cùng chỗ mỗi ngày để việc bắt đầu thành tự động. Mason Currey trong "Daily Rituals" viết về 161 người sáng tạo: Charles Schulz vẽ khoảng 18.000 mẩu truyện Peanuts, làm việc theo một nếp buổi sáng; Maya Angelou viết trong một phòng khách sạn từ 7 giờ sáng tới 2 giờ chiều. William James nói không ai khổ hơn người mỗi ngày phải quyết định lại có bắt đầu làm hay không. Joyce Carol Oates ví viết văn có lúc như "dùng mũi đẩy hạt lạc qua sàn bếp bẩn". Quy tắc của chính Duckworth: 8 giờ sáng ở phòng làm việc tại nhà, đọc lại bản nháp hôm qua.
- Đổi cách cảm nhận nó. Huấn luyện viên bơi Terry Laughlin, người đề xướng phương pháp "total immersion", nói luyện tập có chủ đích có thể rất dễ chịu nếu ta để tâm vào từng khoảnh khắc mà không phán xét. Em bé và trẻ chập chững thất bại liên tục mà không xấu hổ. Elena Bodrova và Deborah Leong thấy quanh tuổi mẫu giáo, cái nhíu mày của người lớn dạy trẻ biết ngượng và sợ. Gemmell nói vận động viên học được rằng thất bại là xấu nên không dám dốc hết sức. "Xấu hổ chẳng giúp sửa được gì." Giáo viên được huấn luyện để cố ý làm sai rồi vui vẻ sửa trước mặt học sinh ("Ôi, cô tưởng là năm khối... để cô đếm lại!"). Hãy thử nói: "Khó quá! Tuyệt thật!"
Câu hỏi thường gặp
Luyện tập có chủ đích là gì?
Luyện tập có chủ đích là cách luyện của chuyên gia theo Anders Ericsson. Nó gồm bốn thành phần: một mục tiêu vươn xa rõ ràng nhắm vào điểm yếu, tập trung và nỗ lực hết mức, phản hồi ngay và có thông tin, rồi lặp lại kèm suy ngẫm tới khi thành thạo.
Quy tắc 10.000 giờ có đúng không?
Trong nghiên cứu của Ericsson ở một học viện violin tại Đức, người giỏi nhất đã luyện khoảng 10.000 giờ trong khoảng 10 năm. Duckworth nhấn mạnh con số ấy là trung bình áng chừng cho thấy quy mô. Điều chính là chuyên gia luyện tập khác, họ luyện có chủ đích.
Dòng chảy và luyện tập có chủ đích khác nhau thế nào?
Dòng chảy là trạng thái tập trung trọn vẹn, tự nhiên và không thấy gắng sức, theo Mihaly Csikszentmihalyi. Luyện tập có chủ đích thì có kế hoạch và vất vả. Dữ liệu của Duckworth cho thấy người có grit cao trải qua cả hai nhiều hơn: luyện tập để chuẩn bị, dòng chảy để biểu diễn.

