Ngã bảy lần, đứng dậy tám lần. Chương 9 của Grit nói về bất lực tập nhiễm, lối giải thích lạc quan và tư duy phát triển.
Tóm tắt
Chương 9 của Grit là phần Duckworth phân biệt hai kiểu hy vọng và chọn kiểu tin rằng chính nỗ lực của mình làm ngày mai tốt hơn. Bà dẫn nghiên cứu về bất lực tập nhiễm, lối giải thích lạc quan và tư duy phát triển của Carol Dweck.
Ý chính
- Hy vọng của grit là tin nỗ lực của mình làm tương lai tốt hơn.
- Tuyệt vọng đến từ đau khổ mà ta tin mình không kiểm soát được.
- Người lạc quan tìm nguyên nhân tạm thời và cụ thể.
- Tư duy phát triển dẫn tới kiên trì và tìm thử thách.
Áp dụng ngay hôm nay
Nghĩ về một thất bại gần đây và viết lại lời giải thích theo hướng tạm thời, cụ thể và sửa được.
Hai kiểu hy vọng
Ngã bảy lần, đứng dậy tám lần. Người Nhật có câu "Ngã bảy lần, đứng dậy tám lần". Có hai kiểu hy vọng. Kiểu thứ nhất là thụ động mong ngày mai tốt hơn, phó mặc cho vũ trụ. Kiểu thứ hai, kiểu của grit, là tin rằng chính nỗ lực của mình làm tương lai tốt hơn: "Tôi quyết làm cho ngày mai tốt hơn." Nó không dính gì tới may mắn, mà là chuyện đứng dậy lần nữa.
Môn sinh học thần kinh. Hồi đại học, Duckworth ngồi bàn đầu, học chăm, nhưng hoảng loạn ở bài kiểm tra đầu tiên (cái ý "mình sẽ trượt" tự ứng nghiệm), rồi làm hỏng bài giữa kỳ. Trợ giảng khuyên bà rút môn, sẽ không ảnh hưởng điểm trung bình. Cuối cùng bà quyết ở lại, còn chọn luôn sinh học thần kinh làm chuyên ngành. Bà tự nói với mình một cách thách thức: "Mình không bỏ! Mình sẽ tìm ra cách!" Rồi bà đi mọi buổi gặp trợ giảng, xin thêm bài tập, luyện bài khó trong giới hạn thời gian để thành thạo tới mức không gì làm mình bất ngờ. Bà làm bài cuối kỳ rất tốt, và điểm cả môn là B, điểm thấp nhất cả thời đại học và cũng là điểm bà tự hào nhất.
Bất lực tập nhiễm và cách giải thích
Bất lực tập nhiễm. Năm 1964, Marty Seligman và Steve Maier, khi đó là nghiên cứu sinh năm nhất, cho chó chịu những cú sốc điện ngẫu nhiên. Một nhóm có thể tắt sốc bằng cách đẩy một tấm chắn; nhóm kia bị nối cặp, không tắt được, dù lượng sốc như nhau. Hôm sau, chó được đặt vào một chiếc hộp có vách thấp nhảy qua được, và có tiếng chuông báo trước khi sốc. Gần như mọi con chó từng có quyền kiểm soát học được cách nhảy qua. Hai phần ba số chó không có quyền kiểm soát nằm xuống và rên rỉ. Bài học: thứ sinh ra tuyệt vọng là đau khổ mà ta tin mình không kiểm soát được, còn đau khổ nói chung thì chưa chắc, kèm các triệu chứng trầm cảm như thay đổi ăn uống, giấc ngủ, khả năng tập trung. Lúc đầu, giữa thời thịnh của chủ nghĩa hành vi, lý thuyết này bị coi là vô lý. Duckworth đã cư xử như một phần ba số chó kiên cường: bà nhớ những lần mình từng gượng dậy, và cho rằng thất bại đến từ những lỗi sửa được. Seligman sau đó học lại thành nhà tâm lý lâm sàng dưới sự hướng dẫn của Aaron Beck, và nghiên cứu mặt ngược lại, "lạc quan tập nhiễm", lấy cảm hứng từ một phần ba kiên cường kia.
Người lạc quan và người bi quan. Hai nhóm không khác nhau ở số chuyện xấu gặp phải mà ở cách giải thích. Người lạc quan tìm nguyên nhân tạm thời và cụ thể ("Mình quản lý thời gian chưa tốt"). Người bi quan tìm nguyên nhân lâu dài và lan khắp ("Mình là đồ thất bại", "Mình làm hỏng mọi thứ"). Bài kiểm tra của Seligman cho người ta hình dung một tình huống, như không làm xong việc người khác trông đợi, rồi viết nguyên nhân; câu trả lời được chấm theo tạm thời hay lâu dài, cụ thể hay lan khắp. Người lạc quan ít trầm cảm và lo âu hơn, điểm đại học cao hơn và ít bỏ học hơn, khỏe hơn tới tuổi trung niên, sống lâu hơn, hôn nhân hạnh phúc hơn. Ở hãng bảo hiểm MetLife, nhân viên lạc quan ở lại lâu gấp đôi và bán nhiều hơn khoảng 25%. Ở nhiều ngành, người bán hàng lạc quan bán hơn người bi quan từ 20 tới 40%. Vận động viên bơi hàng đầu được báo sai rằng mình bơi chậm hơn thực tế: khi bơi lại, người lạc quan bơi ít nhất là bằng, người bi quan bơi kém đi rõ. Những tấm gương về grit giải thích thất bại theo lối lạc quan. Những người Hester Lacey phỏng vấn nói họ không nghĩ theo kiểu thất vọng, mọi thứ đều là điều để học.
Liệu pháp nhận thức hành vi. Aaron Beck cho rằng cùng một sự việc có thể được hiểu theo nhiều cách, và chính cách hiểu (lời ta tự nói với mình), chứ không phải sự việc, tạo ra cảm xúc và hành vi. Ta có thể quan sát và thay đổi lời tự nói tiêu cực và hành vi kém thích nghi, như học một kỹ năng. Tác dụng của liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) kéo dài hơn thuốc chống trầm cảm.
Nghiên cứu với Teach For America. Cùng Wendy Kopp, người sáng lập Teach For America (TFA, nơi "theo đuổi không ngừng" là một giá trị), và Seligman, bà cho 400 giáo viên TFA làm Thang đo Grit, bảng hỏi về lạc quan và một thang đo hạnh phúc vào tháng 8. Một năm sau, chất lượng giảng dạy được chấm theo mức tiến bộ học tập của học sinh. Giáo viên lạc quan có grit cao hơn và hạnh phúc hơn, và chính grit với hạnh phúc giải thích vì sao học sinh của họ tiến bộ nhiều hơn. Bà nhớ lại thời đi dạy, luôn thử cách mới, như bài phân số dùng thanh sô-cô-la Hershey. Kết luận: cứ tìm cách cải thiện tình hình thì có thể tìm ra; thôi tìm thì chắc chắn không tìm ra. Henry Ford: "Dù bạn nghĩ mình làm được hay nghĩ mình không làm được, bạn đều đúng."
Tư duy phát triển
Carol Dweck và tư duy phát triển. Vì sao có người trở nên bất lực? Trong một nghiên cứu đầu tiên, Dweck chia các học sinh cấp hai hay buông xuôi thành hai nhóm. Nhóm "chỉ thành công" luôn được khen dù làm thế nào. Nhóm "luyện lại cách quy nguyên nhân" thỉnh thoảng được nói rằng lẽ ra các em nên cố hơn. Kết quả: nhóm thứ nhất vẫn bỏ cuộc sau bài khó; nhóm thứ hai cố hơn, vì các em học được cách coi thất bại là tín hiệu để cố thêm. Qua hơn 40 năm, Dweck thấy mỗi người có một lý thuyết riêng về trí thông minh. Tư duy cố định nghĩ "Trí thông minh là thứ rất cơ bản, không thay đổi được mấy"; tư duy phát triển nghĩ "Bạn luôn có thể thay đổi nhiều mức thông minh của mình" (bài kiểm tra có bốn câu như vậy). Tư duy cố định biến thất bại (một điểm C trừ, một lần bị từ chối) thành bằng chứng mình không có "tố chất". Ngược lại, tư duy phát triển nghĩ mình có thể học để làm tốt hơn. Tư duy phát triển gắn với kết quả học tập, sức khỏe và quan hệ tốt hơn. Duckworth và Dweck khảo sát hơn 2.000 học sinh lớp 12: em có tư duy phát triển có grit cao hơn; em có grit cao hơn được điểm tốt hơn và dễ vào đại học, theo học tới cùng hơn. Ở mọi mẫu, tư duy phát triển và grit đi cùng nhau.
Tư duy từ đâu mà có. Từ trải nghiệm riêng, và từ cách người có thẩm quyền phản ứng: khen tài năng hay khen nỗ lực. KIPP (Knowledge Is Power Program) do hai giáo viên TFA là Mike Feinberg và Dave Levin lập năm 1994, có 70.000 học sinh, phần lớn từ gia đình thu nhập thấp; gần như em nào cũng tốt nghiệp trung học và hơn 80% vào đại học. Giáo viên ở đây có một "từ điển đồng nghĩa" gồm những câu nên và không nên nói. Diễn giải bảng trong sách:
- Thay "Em đúng là có khiếu!" bằng "Em là người ham học!"
- Thay "Thôi, ít ra em đã cố!" bằng "Cách đó chưa được; mình cùng xem em đã làm thế nào và cách nào có thể tốt hơn."
- Thay "Giỏi lắm, em tài quá!" bằng "Giỏi lắm! Có một điểm nào có thể làm tốt hơn nữa không?"
- Thay "Bài này khó, không làm được cũng đừng buồn" bằng "... không làm được ngay bây giờ cũng đừng buồn" (nhấn chữ "chưa").
- Thay "Có lẽ đây không phải thế mạnh của em, em có cái khác để đóng góp" bằng "Cô đặt chuẩn cao và cô giữ em theo chuẩn đó, vì cô biết mình cùng nhau đạt được."
Làm gương trước. Làm gương quan trọng hơn lời nói. James Baldwin viết trẻ con "chưa bao giờ không bắt chước" người lớn. Daeun Park theo dõi các lớp 1 và 2 suốt một năm: giáo viên ưu ái học sinh giỏi nhất và hay so sánh đã nuôi tư duy cố định, và trẻ thích bài dễ "để làm đúng được nhiều". Cha mẹ coi sai lầm là có hại thì nuôi tư duy cố định ở con, dù miệng nói đề cao tư duy phát triển. Jennifer Chatman ở Berkeley khảo sát nhân viên các công ty trong danh sách Fortune 1000: ở những công ty được nhìn nhận là có tư duy phát triển, nhân viên nói họ tin tưởng hơn, thấy mình làm chủ công việc hơn, gắn bó hơn, sáng tạo hơn, và có khả năng nói công ty ủng hộ chấp nhận rủi ro cao hơn 65%.
Kẻ bi quan bên trong
Kẻ bi quan bên trong. Ai cũng có một kẻ bi quan tư duy cố định ở bên trong. Hãy để ý khi lời nói và cử chỉ không khớp nhau. Susan Mackie cho các CEO đặt tên cho "nhân vật" tư duy cố định của họ, như "Claire Thích Kiểm Soát" hay "Olivia Quá Tải". Bill McNabb, CEO của Vanguard từ năm 2008, nói những người lãnh đạo bị chững lại thường tin "Tôi không học thêm được nữa. Tôi là thế đấy", còn người thành công thì luôn ở trên đà phát triển. Ông bắt đầu với tư duy cố định: được khen sớm nhờ điểm IQ, rồi học lướt. Ông thay đổi nhờ môn chèo thuyền ở đại học. Không có khiếu, ông ở thuyền đội dự bị, chèo cả mùa hè, lên được ghế dẫn nhịp của đội dự bị, rồi bị một huấn luyện viên có tư duy cố định giáng xuống. Bài học: đừng phản ứng thái quá với thất bại; lùi lại, phân tích, học, và giữ lạc quan.
Cái gì không giết được ta có làm ta mạnh hơn không? Đôi khi có. Các chương trình hoang dã của Outward Bound, qua hàng chục nghiên cứu, làm tăng tính độc lập, tự tin, quyết đoán và cảm giác kiểm soát, và mức tăng còn lớn thêm trong sáu tháng sau. Nhưng những con chó bị sốc mà không kiểm soát được thì chẳng được lợi gì. Steve Maier làm thí nghiệm mới với chuột 5 tuần tuổi (tuổi vị thành niên của chuột): một nhóm bị sốc mà kiểm soát được, nhóm kia không. Khi trưởng thành, chuột từng chịu căng thẳng không kiểm soát được trở nên rụt rè sau những cú sốc mới; chuột từng có quyền kiểm soát lại mạnh dạn hơn và như được "tiêm phòng" chống bất lực tập nhiễm. Maier giải thích bằng thần kinh học của hy vọng: các cấu trúc hệ viền như hạch hạnh nhân phản ứng với căng thẳng và chịu sự điều tiết của vỏ não trước trán. Một cách đánh giá như "mình làm được gì đó với chuyện này" khiến vỏ não bảo hệ viền dịu xuống. Mạch này dẻo: vượt qua nghịch cảnh nặng bằng sức mình khi còn trẻ sẽ nối lại mạch, nhưng chỉ khi mạch kiểm soát hoạt động cùng lúc với nghịch cảnh (làm chủ trong nghịch cảnh). Chỉ nói cho ai đó biết thì chưa đủ. Ông lo cho trẻ em nghèo, những em gặp bất lực mà không có trải nghiệm làm chủ.
"Người hoàn hảo dễ vỡ". Bà cũng lo cho những người giỏi chưa từng thất bại và không biết cách thất bại. Ngược lại là Kayvon Asemani, sinh viên năm nhất ở Penn và Wharton, cựu học sinh trường Milton Hershey. Khi cậu học lớp 4, cha cậu suýt giết mẹ cậu. Cậu là thủ khoa, chủ tịch hội học sinh, chơi kèn trombone. Học kỳ đầu đại học được điểm trung bình 3,5 (ba điểm A và một điểm C), cậu phân tích kết quả và không chịu rời Wharton dù chật vật với các môn định lượng: "Tôi sẽ dùng hết grit mình có."
Chuỗi tóm tắt. Tư duy cố định dẫn tới giải thích bi quan, rồi tới bỏ cuộc và né thử thách. Tư duy phát triển dẫn tới giải thích lạc quan, rồi tới kiên trì và tìm thử thách.
Cách tự dạy mình hy vọng
Cách tự dạy mình hy vọng.
- Cập nhật niềm tin về trí thông minh và tài năng. Một nghiên cứu trên tạp chí Nature ở thiếu niên cho thấy IQ thay đổi từ 14 tới 18 tuổi, kèm thay đổi tương ứng trong cấu trúc não. Não như cơ bắp, luôn dẻo, người lớn vẫn tạo thêm được myelin.
- Tập nói với mình theo lối lạc quan. Các chương trình rèn sức bật (CBT mang tính phòng ngừa) giảm bi quan và trầm cảm ở trẻ em trong hai năm, và giảm lo âu, trầm cảm ở sinh viên bi quan. Người bi quan nặng nên gặp chuyên gia trị liệu nhận thức hành vi. Bà nhớ hồi nhỏ từng xé một bài trả lời của mục tư vấn Dear Abby vì nó khuyên "hãy đi gặp chuyên gia trị liệu".
- Nhờ người giúp một tay. Rhonda Hughes, nhà toán học đã nghỉ hưu, người đầu tiên trong nhà vào đại học, bị từ chối 79 trên 80 đơn xin làm giảng viên. Bà gợi ý câu trong Thang đo Grit nên là "Thất bại không làm tôi nản lâu", và Duckworth đã sửa theo. Hughes dựa vào những người thầy; một người đã vạch lộ trình môn học cho bà sau khi bà khóc vì một bài kiểm tra. Bà cùng Sylvia Bozeman lập chương trình EDGE (Enhancing Diversity in Graduate Education) hỗ trợ phụ nữ và người thiểu số học tiến sĩ toán: "Bạn phát triển được khả năng làm toán. Đừng bỏ cuộc!" "Ai cũng cần một người như vậy."
Câu hỏi thường gặp
Bất lực tập nhiễm là gì?
Năm 1964, Marty Seligman và Steve Maier thấy những con chó không thể tắt cú sốc điện về sau không cố thoát dù có thể. Bài học là thứ sinh ra tuyệt vọng không phải đau khổ nói chung, mà là đau khổ ta tin mình không kiểm soát được.
Người lạc quan và người bi quan khác nhau thế nào?
Theo Seligman, hai nhóm không khác nhau ở số chuyện xấu gặp phải mà ở cách giải thích. Người lạc quan tìm nguyên nhân tạm thời và cụ thể, như mình quản lý thời gian chưa tốt. Người bi quan tìm nguyên nhân lâu dài và lan khắp, như mình làm hỏng mọi thứ.
Tư duy phát triển liên quan gì tới grit?
Carol Dweck thấy người có tư duy phát triển tin rằng trí thông minh thay đổi được. Duckworth tóm tắt chuỗi: tư duy phát triển dẫn tới giải thích lạc quan, rồi tới kiên trì và tìm thử thách. Tư duy cố định dẫn tới giải thích bi quan, bỏ cuộc và né thử thách.

