Chương 11. Sân tập của grit

Hoạt động ngoại khóa kéo dài nhiều năm là sân tập của grit. Chương 11 kể về Lưới Grit, chăm chỉ tập nhiễm và Quy tắc Việc Khó.

Tóm tắt

Chương 11 của Grit là phần Duckworth gọi các hoạt động ngoại khóa có tổ chức là sân tập của grit. Theo đuổi một hoạt động nhiều năm, có tiến bộ, đoán được thành tựu về sau, và gia đình bà áp dụng Quy tắc Việc Khó.

Ý chính

  • Hoạt động ngoại khóa có một người lớn vừa ủng hộ vừa đòi hỏi.
  • Theo tới cùng một hoạt động nhiều năm đoán được thành tựu về sau.
  • Grit vừa cần để theo tới cùng, vừa lớn lên nhờ theo tới cùng.
  • Quy tắc Việc Khó: mỗi người làm một việc khó, không bỏ vào ngày tệ, tự chọn việc.

Áp dụng ngay hôm nay

Thử áp dụng Quy tắc Việc Khó trong nhà: mỗi người chọn một việc khó, và chỉ được bỏ khi tới điểm dừng tự nhiên.

Hộp nho khô và lớp ballet

Hộp nho khô và lớp ballet. Lucy, khoảng 4 tuổi, bỏ cuộc khi không mở được một hộp nho khô. Duckworth cho con đi học ballet. Các hoạt động ngoại khóa (ballet, piano, bóng bầu dục, mọi hoạt động có tổ chức) là "sân tập của grit" vì hai lý do: có một người lớn không phải cha mẹ phụ trách, lý tưởng là vừa ủng hộ vừa đòi hỏi; và chúng được xây ra để nuôi hứng thú, luyện tập, mục đích và hy vọng. Không có nghiên cứu ngẫu nhiên nào về chuyện này, vì lý do đạo đức, nhưng bằng chứng gợi ý khá rõ. Lời khuyên của bà: cho con đăng ký một hoạt động ngoài giờ học mà con thích. Quy tắc lý tưởng: ai cũng tham gia ít nhất một hoạt động, và học sinh trung học theo một hoạt động hơn một năm. Không cần lên lịch kín mọi lúc.

Bằng chứng về sự theo tới cùng

Bằng chứng.

  • Nghiên cứu dùng máy nhắn tin để lấy mẫu trải nghiệm: trong lớp, trẻ thấy bị thử thách nhưng không có động lực; với bạn bè thì vui mà không thử thách; trong thể thao, âm nhạc, kịch thì vừa thử thách vừa vui. Việc học khó mà không thú vị, nhắn tin thú vị mà không khó, ballet có cả hai.
  • Nhiều nghiên cứu cho thấy tham gia hoạt động gắn với điểm tốt hơn, tự trọng cao hơn, ít rắc rối hơn; các nghiên cứu theo dõi dài hạn cũng cho kết quả tương tự. Tham gia quá nhiều là chuyện hiếm: thiếu niên Mỹ trung bình xem tivi và chơi game hơn ba giờ mỗi ngày.
  • Theo càng lâu càng tốt. Steve Young, sau một mùa giải năm thứ ba kém, làm một quả bóng bằng gỗ quấn băng keo gắn vào máy tập tạ, và tăng gấp đôi số yard chuyền bóng. Margo Gardner ở Columbia theo dõi 11.000 thiếu niên tới năm 26 tuổi: tham gia ngoại khóa ở trung học hơn một năm (hai năm so với một năm) đoán được việc tốt nghiệp đại học và làm tình nguyện cho cộng đồng; riêng nhóm tham gia hai năm còn có việc làm và thu nhập cao hơn.

Dự án Phẩm chất Cá nhân của Warren Willingham. Năm 1978, với tài trợ của ETS (tổ chức làm ra các kỳ thi SAT, GRE, TOEFL, Praxis, AP), Willingham theo dõi vài nghìn học sinh lớp 12 trong năm năm. Hơn 100 đặc điểm cá nhân được chấm từ đầu. Kết quả đo là thành tích học tập xuất sắc, vị trí lãnh đạo và thành tựu nổi bật. Điểm học và điểm thi chỉ đoán được ở mức tạm. Đặc điểm thắng là "theo tới cùng" (follow-through): cam kết liên tục, có chủ đích với một loại hoạt động, trái với nỗ lực rời rạc ở nhiều lĩnh vực. Điểm cao nhất dành cho người theo hai hoạt động, mỗi cái nhiều năm, có tiến bộ thật (ví dụ thành biên tập viên điều hành tờ báo trường sau ba năm, hay thắng một giải điền kinh lớn). Điểm thấp nhất là không có hoạt động nào kéo dài nhiều năm, dù là không tham gia gì hay tham gia lung tung. Sau khi tính tới điểm học và điểm SAT, "theo tới cùng" đoán tốt nhất việc tốt nghiệp loại danh dự, giữ vị trí lãnh đạo và có thành tựu nổi bật ở bất kỳ lĩnh vực nào. Hoạt động là gì không quan trọng: đăng ký, đăng ký tiếp, và tiến lên.

Lưới Grit. Thang đo Grit có thể bị khai gian, nên bà dùng một thước đo hành vi, với tài trợ của Quỹ Gates. Lưới Grit (Grit Grid) liệt kê các hoạt động, các năm học từ lớp 9 tới 12 đã tham gia, và thành tích hay vị trí lãnh đạo. Chấm tối đa hai hoạt động: 1 điểm cho mỗi hoạt động theo từ hai năm trở lên; thêm 1 điểm nếu có tiến bộ theo thời gian (ví dụ từ thành viên lên thủ quỹ); thêm 1 điểm nữa nếu tiến bộ ở mức "cao" (chủ tịch hội học sinh, cầu thủ xuất sắc nhất đội bóng rổ). Thang điểm từ 0 tới 6. Với 1.200 học sinh lớp 12, điểm Lưới Grit cao đi cùng grit cao theo cả tự chấm lẫn giáo viên chấm. Hai năm sau, chỉ 34% còn đang học đại học; trong nhóm đạt 6/6 là 69%, trong nhóm 0/6 là 16%. Với giáo viên mới vào nghề, điểm Lưới Grit thời đại học đoán được ai ở lại với nghề và học sinh của ai tiến bộ, trong khi điểm SAT, điểm trung bình đại học và đánh giá lãnh đạo của người phỏng vấn đều không liên quan. Bill Gates khi tuyển người cho Microsoft dùng một bài lập trình tẻ nhạt để thử sức theo tới cùng, và chỉ tuyển người làm xong việc mình bắt đầu.

Chọn lọc hay vun đắp

Chọn lọc hay vun đắp? Có lẽ cả hai: grit vừa cần thiết để theo tới cùng, vừa lớn lên nhờ theo tới cùng. Brent Roberts gọi đó là "nguyên lý tương ứng": những nét tính cách đưa ta vào một hoàn cảnh lại được chính hoàn cảnh đó khuếch đại, tạo vòng tốt hoặc vòng xấu. Ở New Zealand, thiếu niên hay gây hấn về sau làm việc kém hơn và càng gây hấn hơn; thiếu niên dễ chịu làm việc tốt hơn và càng hòa đồng hơn. Bà phỏng đoán với grit cũng vậy: bỏ cuộc với hộp nho khô có thể bắt đầu một vòng xấu, còn những lần vượt khó ở lớp ballet bắt đầu một vòng tốt (chật vật, tiến bộ, tự tin làm việc khó hơn).

Trưởng phòng tuyển sinh Harvard. Bill Fitzsimmons làm trưởng phòng tuyển sinh Harvard từ năm 1979, và còn nhớ các hoạt động của chính Duckworth. Harvard nhận nhiều sinh viên vì học lực xuất sắc, và nhận ít nhất cũng chừng ấy người vì cam kết bền bỉ "với năng lượng, kỷ luật khác thường và sự chăm chỉ giản dị". Grit rèn được ở một hoạt động sẽ chuyển sang việc khác. Họ dùng một cách chấm giống Lưới Grit. Ông tin con người sinh ra với tiềm năng rất lớn, và hoạt động ngoại khóa dạy những bài học dùng được ở nơi khác. Điều ông lo: các trường phục vụ trẻ nghèo cắt nghệ thuật, âm nhạc và hoạt động ngoại khóa. Robert Putnam thấy thiếu niên khá giả vẫn tham gia nhiều, còn thiếu niên nghèo thì giảm (phí tham gia, đồng phục, đi lại, học nhạc). Trong mẫu của Duckworth, học sinh được trợ cấp bữa ăn có điểm Lưới Grit thấp hơn trọn một điểm.

Geoffrey Canada. Người đứng đầu Harlem Children's Zone nói trẻ nghèo cần "một tuổi thơ tử tế". Chương trình của ông chi tiền cho ngoại khóa dù chưa có bằng chứng khoa học, "vì tôi thật lòng thích trẻ con": không có nghiên cứu nào của MIT nói học múa giúp giỏi đại số, nhưng trẻ và phụ huynh thích.

Chăm chỉ tập nhiễm

Chăm chỉ tập nhiễm. Robert Eisenberger ở Đại học Houston làm nhiều thí nghiệm. Chuột được chia ngẫu nhiên: một nhóm phải nhấn cần 20 lần mới được một viên thức ăn, nhóm kia chỉ 2 lần; sau đó làm một việc khó khác, nhóm từng làm việc khó hăng hái hơn. Chuột phải lấy thức ăn qua lưới sắt (phải làm mới có ăn) đi trên tấm ván giỏi hơn chuột được rải thức ăn sẵn trên sàn. Trẻ em được trả vài xu cho những bài khó dần, so với bài vẫn dễ, về sau chép chữ tẻ nhạt chăm hơn. Kết luận: sự chăm chỉ là thứ học được, qua trải nghiệm thấy nỗ lực gắn với phần thưởng. Tên "chăm chỉ tập nhiễm" đặt ra để đối xứng với "bất lực tập nhiễm". Duckworth thừa nhận bà khó tạo được mối liên hệ đó với con mình vì hay khen quá tay, nên huấn luyện viên và thầy cô ngoại khóa mới quan trọng.

Cô giáo ballet. Cô giáo ballet của Lucy và Amanda vừa ủng hộ vừa rất đòi hỏi: đi trễ thì bị giảng nghiêm, quên đồ thì ngồi ngoài, lặp đi lặp lại không dứt, dạy cả lịch sử ballet và bổn phận với truyền thống. Đó là nơi tập dượt hứng thú, luyện tập, mục đích và hy vọng.

Quy tắc Việc Khó

Quy tắc Việc Khó của nhà Duckworth.

  • Mọi người, kể cả cha mẹ, đều làm một việc khó cần luyện tập có chủ đích hằng ngày. Bà: nghiên cứu tâm lý và yoga. Chồng bà: phát triển bất động sản và chạy bộ. Amanda: piano, sau khi bỏ ballet. Lucy thử ballet, thể dục dụng cụ, điền kinh, đồ thủ công, piano rồi mới chọn viola, theo ba năm và vào cả dàn nhạc trường lẫn dàn nhạc toàn thành phố.
  • Được bỏ, nhưng phải tới điểm dừng tự nhiên (hết mùa giải, hết khóa đã đóng tiền), không bao giờ bỏ vào một ngày tệ (vừa bị la, vừa thua cuộc đua, lỡ một buổi ngủ lại nhà bạn).
  • Tự chọn việc khó của mình.

Quy tắc thứ tư. Lên trung học thì thêm quy tắc thứ tư: cam kết với ít nhất một hoạt động trong ít nhất hai năm. Các con bà nói chúng chấp nhận vì chúng muốn có grit hơn.

Câu hỏi thường gặp

Lưới Grit là gì?

Lưới Grit là thước đo hành vi Duckworth dùng thay cho bảng tự chấm. Nó cho điểm từ 0 tới 6 dựa trên số hoạt động theo đuổi từ hai năm trở lên và mức tiến bộ trong đó. Với học sinh lớp 12, điểm cao đoán được ai còn học đại học hai năm sau.

Quy tắc Việc Khó của nhà Duckworth là gì?

Quy tắc có ba vế. Mọi người, kể cả cha mẹ, làm một việc khó cần luyện tập có chủ đích. Được bỏ, nhưng chỉ khi tới điểm dừng tự nhiên như hết mùa giải, không bỏ vào một ngày tệ. Mỗi người tự chọn việc khó của mình. Lên trung học thêm vế cam kết hai năm.

Chăm chỉ tập nhiễm là gì?

Robert Eisenberger ở Đại học Houston thấy chuột phải làm việc khó để được thưởng về sau hăng hái hơn với việc khó khác. Ông gọi đó là chăm chỉ tập nhiễm: sự chăm chỉ là thứ học được, qua trải nghiệm thấy nỗ lực gắn với phần thưởng.

Previous
Previous

Chương 10. Nuôi dạy con để có grit

Next
Next

Chương 12. Một văn hóa của grit