Chương 3: sự thật về khả năng và thành tựu

ch-04

Chương 3 Mindset: Edison không làm một mình, thí nghiệm lời khen, Marva Collins, Escalante, mối đe dọa định kiến và vì sao ai cũng học vẽ được.

Tóm tắt

Chương 3 là chương Dweck cho thấy thành tựu đến từ học hỏi nhiều hơn từ năng khiếu trời cho. Bà kể Edison làm việc với cả một đội, học sinh tư duy phát triển tiến lên khi bài khó, và thí nghiệm cho thấy khen trẻ thông minh làm trẻ né thử thách, còn khen nỗ lực thì ngược lại.

Ý chính

  • Thiên tài đơn độc là huyền thoại.
  • Bài kiểm tra cho biết học sinh đang ở đâu, chưa cho biết em sẽ tới đâu.
  • Khen trí thông minh làm trẻ né thử thách và làm kém đi.
  • Tư duy phát triển làm định kiến bớt sức nặng.

Áp dụng ngay hôm nay

Hôm nay khi khen ai đó, khen cách họ làm và công họ bỏ ra, đừng khen họ thông minh.

Huyền thoại thiên tài đơn độc

Edison không làm một mình. Người ta hình dung Thomas Edison một mình trong phòng thí nghiệm khi bóng đèn bỗng sáng. Thật ra ông có ba mươi trợ lý, có cả nhà khoa học được đào tạo, làm việc suốt ngày đêm trong một phòng thí nghiệm được doanh nghiệp tài trợ. Bóng đèn là cả một mạng lưới phát minh tốn thời gian, cần nhà hóa học, nhà toán học, nhà vật lý, kỹ sư và thợ thổi thủy tinh.

Một cậu bé bình thường. Theo người viết tiểu sử Paul Israel, Edison hồi trẻ là cậu bé khá bình thường của thời mình. Điều làm ông khác là tư duy và động lực: ông học nghề điện báo, leo dần từng nấc nhờ tự học không ngừng, và cả đời gắn với việc tự hoàn thiện và phát minh.

Darwin và Mozart. Cuốn Nguồn gốc các loài của Darwin là kết quả của nhiều năm thực địa, hàng trăm cuộc trao đổi, nhiều bản nháp và nửa đời người. Mozart làm việc hơn mười năm mới viết ra tác phẩm được ngưỡng mộ, và nhiều bài thời đầu được chắp từ nhạc của người khác.

Tư duy và kết quả học tập

Bước lên cấp hai. Dweck theo dõi học sinh khi chuyển lên cấp hai, lúc bài khó hơn, chấm điểm gắt hơn và tuổi dậy thì tới. Điểm của học sinh tư duy cố định đi xuống trong hai năm, còn điểm của học sinh tư duy phát triển đi lên. Trước đó thành tích hai nhóm như nhau.

Hai bài toán chưa ai giải. George Dantzig, nghiên cứu sinh toán ở Berkeley, tới lớp muộn và chép hai bài tập về nhà trên bảng. Ông mất nhiều ngày để giải, rồi mới biết đó là hai bài toán nổi tiếng chưa ai giải được.

Hội chứng cố ít

Tuổi dậy thì là một kỳ thi. Với tư duy cố định, tuổi dậy thì là một kỳ thi lớn: khôn hay dại, đẹp hay xấu, sành điệu hay quê mùa, thắng hay thua. Nhiều em giữ thể diện bằng cách không cố gắng, và mục tiêu của các em là làm mọi thứ càng dễ càng tốt. Người lớn như muốn nói "chúng tôi sẽ đo em", và các em đáp "không đâu".

Jimmy. Trong một buổi hội thảo, Jimmy là em chán học nhất nhóm. Khi nghe về tư duy phát triển, em rưng rưng hỏi: "Ý cô là em không phải ngốc mãi à?" Sau đó em thức khuya làm bài và nộp sớm để được góp ý.

Tìm thấy bộ não của mình

Những con ngựa giấy. Paul Wortman, bạn của Dweck, kể cô giáo lớp hai cho học trò cắt ngựa giấy, mỗi lần học được điều gì thì ngựa tiến thêm. Ngựa của cậu tụt sau ngựa của hai bạn giỏi nhất lớp. Nhờ đọc truyện tranh với mẹ và cộng điểm chơi bài với bà, ngựa của cậu thắng sát nút, và cậu biết mình có bộ não. Học không nên là một cuộc đua, nhưng nó nối bộ não của cậu với trường học.

Lên đại học

Hai cách học hóa. Trong lớp hóa dự bị y khoa, sinh viên tư duy phát triển được điểm cao hơn và gượng dậy sau bài thi kém. Sinh viên tư duy cố định đọc lại sách và vở, học thuộc như máy hút bụi, rồi kết luận hóa không hợp với mình sau khi đã làm mọi cách. Sinh viên tư duy phát triển tìm chủ đề và nguyên lý xuyên suốt các bài giảng, xem lại lỗi sai tới khi hiểu, và tự giữ động lực cả khi môn học khô khan.

Không còn bất lực. Theo sách, chính cách học ấy giải thích điểm số của họ, hơn là trí thông minh hay xuất thân. June, một sinh viên từng chỉ biết đọc đi đọc lại, đổi cách học sau khi biết về tư duy phát triển, làm tốt hơn mong đợi nhiều, và ký tên email là "Không còn bất lực".

Ai cũng làm tốt được không

Thần đồng và tình yêu học hỏi. Sách của Ellen Winner kể về những thần đồng, như cậu bé Michael được cho là biết nói từ bốn tháng tuổi và tới ba tuổi đã tự khám phá các quy tắc đại số. Dweck nhấn vào tình yêu học hỏi và thử thách ở mọi thần đồng: sự tò mò nuôi năng khiếu. Mozart làm việc tới mức tay biến dạng, Darwin sưu tầm mẫu vật từ nhỏ.

Jaime Escalante. Ở Garfield High, một trong những trường kém nhất Los Angeles, Jaime Escalante dạy giải tích đại học cho học sinh gốc Mỹ Latinh ở khu nghèo. Ông hỏi làm sao để dạy các em, thay vì hỏi liệu có dạy được không. Tới năm 1987, cùng đồng nghiệp Benjamin Jimenez, chỉ ba trường công khác ở Mỹ có nhiều học sinh thi AP Calculus hơn, và phần lớn học trò của ông được tính tín chỉ đại học.

Marva Collins. Ở Chicago, Marva Collins nhận những đứa trẻ bị gắn nhãn khuyết tật học tập hay rối loạn cảm xúc, và đối xử với các em như thiên tài. Học trò lớp hai của bà từ mức đọc thấp nhất lên mức giữa lớp năm vào tháng sáu, đọc Aristotle, Aesop, Tolstoy, Shakespeare, Poe và Frost. Một em bị xếp vào diện chậm phát triển lúc sáu tuổi, bốn năm sau đọc hai mươi ba cuốn sách trong một mùa hè, có cả A Tale of Two Cities và Jane Eyre.

Nghiên cứu của Benjamin Bloom. Benjamin Bloom nghiên cứu 120 người xuất sắc, từ nghệ sĩ dương cầm, nhà điêu khắc, vận động viên bơi Olympic tới nhà toán học và nhà thần kinh học. Phần lớn họ không có gì nổi bật khi nhỏ. Động lực, sự cam kết và những người nâng đỡ đưa họ lên đỉnh. Sau bốn mươi năm, ông kết luận điều một người học được thì gần như ai cũng học được nếu có điều kiện phù hợp, trừ vài phần trăm ở hai đầu.

Xếp lớp theo trình độ

Bài kiểm tra cho biết hiện tại. Bài kiểm tra cho biết học sinh đang ở đâu, chưa cho biết em có thể đi tới đâu. Ở Đức, Falko Rheinberg thấy giáo viên tư duy cố định tin thành tích không đổi và mình không tác động được: nhóm giỏi và nhóm yếu của họ ở nguyên chỗ cũ. Với giáo viên tư duy phát triển, cả hai nhóm cuối năm đều lên cao, khoảng cách biến mất.

Không để em thất bại. Marva Collins nói với Freddie, một em lớp hai bị lưu ban, rằng ngồi yên trên ghế thì không tự thông minh lên được, và cô sẽ không để em thất bại. Tư duy cố định cản thành tích bằng những ý nghĩ chen ngang, cảm giác nỗ lực là xấu, chiến lược kém, và biến người khác thành giám khảo thay vì đồng minh.

Năng khiếu nghệ thuật có phải trời cho

Con cú trong sổ lưu niệm. Dweck từng tin vẽ là năng khiếu bẩm sinh, vì tay vẽ của bà dừng lại từ đầu tiểu học. Một chủ nhà bà quý, một bác sĩ tâm thần mê cú, hay nhờ khách vẽ một con cú vào sổ lưu niệm. Dweck phải vẽ ở trang cuối và thấy kinh hoàng.

Ai cũng học vẽ được. Cuốn Drawing on the Right Side of the Brain của Betty Edwards cho thấy chân dung tự họa trước và sau một khóa năm ngày: ai cũng học được cách vẽ. Vẽ là những kỹ năng nhìn học được: nhìn đường viền, khoảng trống, tương quan, sáng tối và tổng thể, rồi ghép chúng lại. Việc có người làm được gì đó mà ít cần học không có nghĩa người khác không làm được, đôi khi còn làm tốt hơn, nếu được dạy.

Pollock và Tharp. Giới chuyên môn đồng ý Jackson Pollock có ít năng khiếu bẩm sinh, nhưng ông thành một trong những họa sĩ Mỹ lớn nhất nhờ tận tụy: ông nghĩ về nghệ thuật và vẽ liên tục, nhờ người khác dìu dắt, và phát triển lối vẽ rót sơn riêng. Biên đạo múa Twyla Tharp, người làm việc cho phim Amadeus, bác bỏ hình ảnh Mozart không cần cố trong phim và nói không có thiên tài bẩm sinh.

Mặt trái của lời khen và nhãn tốt

Khen thông minh. Hơn 80% phụ huynh tin khen con giỏi giúp con tự tin. Dweck lo rằng lời khen ấy dạy trẻ tư duy cố định.

Thí nghiệm lời khen. Hàng trăm em, phần lớn đầu tuổi thiếu niên, làm mười câu đố IQ phi ngôn ngữ khá khó, rồi được khen theo một trong hai kiểu: chắc em giỏi môn này lắm, hoặc chắc em đã cố gắng nhiều. Nhóm được khen thông minh từ chối bài mới khó hơn, còn 90% nhóm được khen nỗ lực chọn bài khó. Gặp bài khó, nhóm được khen thông minh kết luận mình không giỏi và mất vui. Nhóm được khen nỗ lực nghĩ mình cần cố hơn hay đổi cách làm, và nhiều em nói bài khó là vui nhất.

Lời khen hạ điểm. Sau đó, nhóm được khen thông minh làm kém hơn cả lúc đầu, kể cả với bài dễ, còn nhóm được khen nỗ lực tiến bộ. Gần 40% em được khen thông minh nói dối điểm của mình khi viết thư cho bạn ở trường khác, và luôn nói dối theo hướng tăng. Khen trẻ thông minh làm các em cảm thấy và hành xử kém đi, nhưng lại khoe mình giỏi hơn.

Adam Guettel. Adam Guettel, cháu của nhạc sĩ Richard Rodgers, được gọi là thái tử của nhạc kịch. Năm mười ba tuổi, cậu giả vỡ giọng để khỏi đóng vai chính trong một buổi phát thanh opera. Anh nói trong gia đình mình, giỏi thôi là thất bại, chỉ vĩ đại mới không phải thất bại, và anh chịu nhiều năm khổ sở dưới gánh nặng tiềm năng. Năm 2005 anh giành giải Tony cho vở The Light in the Piazza.

Nhãn xấu vận hành thế nào

Thầy giáo không tin con gái học toán được. Dweck từng được 99 điểm môn đại số, hình học và lượng giác, rồi gặp thầy Hellman, người tin con gái không học toán được. Điểm của bà tụt xuống và bà không học toán nữa.

Mối đe dọa định kiến. Claude Steele và Joshua Aronson gọi hiện tượng này là mối đe dọa định kiến. Chỉ cần đánh dấu ô chủng tộc hay giới tính trước bài thi, hay trong phòng có nhiều nam hơn, điểm của sinh viên da đen hoặc của phụ nữ đã giảm. Khi không có những tín hiệu ấy, họ làm bài ngang bằng. Nỗi lo xác nhận định kiến chiếm mất sức nghĩ.

Định kiến bớt nanh vuốt. Theo Dweck, điều này xảy ra chủ yếu ở người tư duy cố định, vì định kiến nói bạn kém hơn mãi mãi, khớp với niềm tin của họ. Ở tư duy cố định, nhãn tốt làm ta sợ mất nó, nhãn xấu làm ta sợ mình đáng bị như vậy. Trong một nghiên cứu, sinh viên người Mỹ gốc Phi tư duy phát triển nhận lời góp ý gắt từ một giáo sư có vẻ kiêu ngạo, nhưng vẫn thấy nó công bằng, cụ thể và dùng nó để học.

Mình có thuộc về nơi này không. Ở các lớp giải tích, nữ sinh viên tư duy phát triển giữ được cảm giác thuộc về lớp học ổn định ngay cả khi gặp định kiến. Với nữ sinh viên tư duy cố định, cảm giác ấy teo lại khi định kiến tăng. Dweck nhấn mạnh định kiến không phải lỗi của người chịu nó, và tư duy phát triển giúp họ coi đó là quan điểm của người khác.

Tin vào nhận xét của người khác

Khen hoàn hảo từ nhỏ. Những cô bé học giỏi, được khen hoàn hảo từ nhỏ, học cách tin vào đánh giá của người khác về mình. Con trai ở tiểu học bị phê bình về hạnh kiểm nhiều gấp tám lần và chọc nhau liên tục, nên lời đánh giá mất sức nặng với các em. Frances Conley, người phụ nữ đầu tiên được biên chế giáo sư phẫu thuật thần kinh ở một trường y Mỹ, từng nghi ngờ mình khi một đồng nghiệp nam gọi bà là "cưng" giữa ca mổ.

Khoảng cách giới trong toán và khoa học. Tư duy cố định, định kiến và niềm tin vào đánh giá của người khác cùng nuôi khoảng cách giới trong toán và khoa học. Julie Lynch viết code từ cấp hai, nhưng mất hứng sau khi một giáo viên chê một lối tắt vẫn chạy đúng, và chuyển sang ngành khác.

Khi mọi thứ đi đúng. Cha của chị em nhà Polgar tin thành công là 99% làm việc chăm chỉ. Judit, được coi là kỳ thủ nữ giỏi nhất mọi thời, khởi đầu chậm nhưng rất chăm. Hai cô con gái giỏi toán của một đồng nghiệp lớn lên trong gia đình có tư duy phát triển rõ nhất mà Dweck biết.

Nuôi tư duy phát triển

Việc làm cho chương này. Tìm hiểu công sức thật phía sau thành tựu của người bạn ngưỡng mộ. Khi người khác vượt mình, hãy nghĩ tới chiến lược tốt hơn, tự học, luyện tập và bền bỉ, thay vì tài năng. Để ý những lúc mình bỗng thấy đầu óc mụ đi và nối lại trí óc bằng cách nghĩ tới việc học. Đừng dán nhãn con là "nhà nghệ sĩ" hay "nhà khoa học". Hơn một nửa xã hội thuộc một nhóm chịu định kiến tiêu cực, nên hãy tạo môi trường dạy họ tư duy phát triển.

Nguồn của trang này. Trang này tóm tắt chương 3 của Mindset (Carol S. Dweck, bản cập nhật, ebook đọc trên Libby), diễn giải theo ghi chú khi đọc sách. Các nghiên cứu về trầm cảm, sức khỏe và ăn kiêng là phần tác giả dẫn lại, không phải lời khuyên y khoa.

Câu hỏi thường gặp

Thí nghiệm lời khen của Dweck cho thấy gì?

Hàng trăm em làm câu đố IQ rồi được khen thông minh hoặc khen đã cố gắng. Nhóm được khen thông minh né bài khó, mất vui, làm kém đi và gần 40% nói dối điểm. Trong nhóm được khen nỗ lực, 90% chọn bài khó, các em vẫn thích câu đố và làm tốt lên.

Mối đe dọa định kiến là gì?

Claude Steele và Joshua Aronson thấy chỉ cần đánh dấu ô chủng tộc hay giới tính trước bài thi, điểm của sinh viên da đen hoặc phụ nữ đã giảm, vì nỗi lo xác nhận định kiến chiếm mất sức nghĩ. Dweck viết điều này xảy ra chủ yếu ở người có tư duy cố định.

Năng khiếu vẽ có phải bẩm sinh?

Dweck từng tin vậy. Sách của Betty Edwards cho thấy chân dung tự họa trước và sau một khóa năm ngày, và ai cũng học được cách vẽ. Vẽ gồm những kỹ năng nhìn học được như đường viền, khoảng trống, sáng tối. Làm kém lúc đầu không nói lên tài năng hay tương lai.

Previous
Previous

Chương 2: bên trong hai kiểu tư duy

Next
Next

Chương 4: thể thao, tư duy của nhà vô địch