Tóm tắt
Chương dài nhất của sách. Hill dạy lập kế hoạch cùng một nhóm trí tuệ, họp đều và giữ hòa hợp tuyệt đối. Kế hoạch hỏng thì thay bằng kế hoạch khác. Ông liệt kê 11 phẩm chất lãnh đạo, 30 nguyên nhân thất bại, cách xin việc bằng một bản trình bày năng lực, và công thức Chất lượng, Số lượng, Tinh thần.
Ý chính
- Thất bại tạm thời chỉ báo hiệu kế hoạch chưa vững, không phải dấu chấm hết.
- Lãnh đạo giỏi làm nhiều hơn mức được trả và nhận trọn trách nhiệm.
- Dịch vụ tốt là chất lượng cộng số lượng cộng tinh thần hợp tác.
- Mỗi năm nên tự kiểm kê bản thân với một người dám nói thẳng.
Áp dụng ngay hôm nay
Chọn ra ba trong 30 nguyên nhân thất bại mà mình thấy giống mình nhất. Viết cạnh mỗi cái một việc nhỏ để sửa trong tuần này.
Bước 6. Lập kế hoạch có tổ chức: bước thứ sáu tới giàu có (Organized Planning - The Sixth Step Toward Riches)
Bốn chỉ dẫn để xây kế hoạch. Khát khao đi từ trừu tượng tới cụ thể trong xưởng của trí tưởng tượng, nơi kế hoạch được làm ra. Hill đưa bốn chỉ dẫn:
- (a) Liên minh với càng nhiều người càng tốt, tùy nhu cầu, thành một nhóm MASTER MIND (điều thiết yếu).
- (b) Quyết định trước bạn sẽ đem lại lợi ích hay thù lao gì cho từng thành viên (không nhất thiết là tiền).
- (c) Họp với nhóm ít nhất hai lần một tuần (nhiều hơn nếu được) cho tới khi kế hoạch hoàn chỉnh.
- (d) Giữ SỰ HÒA HỢP TUYỆT ĐỐI với từng thành viên; nếu không, nguyên tắc Master Mind sẽ thất bại.
Vì sao cần nhóm. Kế hoạch phải không có kẽ hở, mà không ai một mình đủ kinh nghiệm, học vấn, năng lực và hiểu biết. Mọi kế hoạch nên được nhóm Master Mind xem và duyệt. Kế hoạch hỏng thì thay bằng kế hoạch khác, rồi kế hoạch khác nữa; phần lớn người ta thất bại vì không đủ bền bỉ để lập kế hoạch lại. Thất bại tạm thời chỉ báo hiệu kế hoạch chưa vững. Edison thử 10.000 lần mới ra bóng đèn. Ford thành công vì đi theo một kế hoạch vững, chứ không phải vì đầu óc hơn người. Samuel Insull mất hơn 100 triệu đô la khi những kế hoạch thay đổi của ông không vững. James J. Hill từng thất bại khi gọi vốn làm đường sắt lúc đầu, và Ford cũng có những lần vấp. Không ai bị đánh bại cho tới khi họ bỏ cuộc trong đầu. "KẺ BỎ CUỘC KHÔNG BAO GIỜ THẮNG, NGƯỜI CHIẾN THẮNG KHÔNG BAO GIỜ BỎ CUỘC"; hãy dán câu này ở chỗ bạn nhìn thấy mỗi tối và mỗi sáng. Chọn thành viên Master Mind là những người không coi thất bại là chuyện nghiêm trọng. Chỉ có tiền thì không đẻ ra tiền; khát khao được chuyển hóa mới làm được việc đó (tiền "nghe được tiếng gọi của người khao khát nó").
Lãnh đạo hay đi theo. Phần lớn gia tài bắt đầu từ thù lao cho dịch vụ cá nhân hoặc từ việc bán ý tưởng. Bạn phải quyết định mình sẽ là NGƯỜI LÃNH ĐẠO hay NGƯỜI ĐI THEO. Những nhà lãnh đạo lớn đều khởi đầu là người đi theo thông minh.
Mười một phẩm chất lãnh đạo:
- Lòng can đảm không lay chuyển (đến từ hiểu mình và hiểu nghề).
- Tự chủ.
- Ý thức công bằng sâu sắc.
- Quyết định dứt khoát.
- Kế hoạch rõ ràng ("lên kế hoạch cho công việc và làm theo kế hoạch").
- Thói quen làm nhiều hơn mức được trả.
- Tính cách dễ mến.
- Thông cảm và thấu hiểu.
- Nắm vững chi tiết.
- Sẵn lòng nhận toàn bộ trách nhiệm (kể cả lỗi của người dưới quyền).
- Hợp tác.
Hai kiểu lãnh đạo. Lãnh đạo bằng sự đồng thuận thì bền, lãnh đạo bằng vũ lực thì không trụ được lâu (Napoleon, Hoàng đế Wilhelm, Sa hoàng, Vua Tây Ban Nha). Quan hệ chủ thợ trong tương lai sẽ giống quan hệ đối tác, chia lợi nhuận công bằng. Theo Hill, Khủng hoảng kéo dài vì thiếu kiểu lãnh đạo mới, và đó chính là cơ hội.
Mười nguyên nhân chính khiến lãnh đạo thất bại:
- Không biết tổ chức chi tiết (cần giao việc cho cấp phó).
- Không chịu phục vụ một cách khiêm nhường ("người lớn nhất trong các ngươi sẽ là đầy tớ của mọi người").
- Mong được trả công cho những gì mình BIẾT thay vì những gì mình LÀM với hiểu biết đó.
- Sợ người dưới cạnh tranh (hãy đào tạo người kế cận; lãnh đạo kiếm nhiều hơn nhờ khiến người khác làm việc).
- Thiếu trí tưởng tượng.
- Ích kỷ (nhận hết công về mình).
- Thiếu điều độ.
- Không trung thành.
- Nhấn mạnh quyền uy của người lãnh đạo.
- Nhấn mạnh chức danh.
Những lĩnh vực cần lãnh đạo mới. Chính trị (Hill gọi phần lớn chính khách là "những kẻ trấn lột hợp pháp"), ngân hàng, công nghiệp (nghĩ theo con người, như những công chức nửa công), tôn giáo (lo cho nhu cầu kinh tế và cá nhân hiện tại), luật, y khoa và giáo dục (dạy cách ÁP DỤNG kiến thức, thực hành hơn lý thuyết), và báo chí (thoát khỏi sự bao cấp của quảng cáo và chuyện bê bối).
Khi nào và cách nào xin việc (When And How To Apply For A Position)
Năm kênh tiếp thị dịch vụ. (1) Các văn phòng giới thiệu việc làm có uy tín. (2) Quảng cáo: rao vặt cho việc văn phòng, quảng cáo khung ở đúng mục cho vị trí điều hành, nội dung do người chuyên nghiệp viết. (3) Thư xin việc cá nhân, đánh máy, ký tay, kèm bản tóm tắt năng lực. (4) Tiếp cận qua người quen chung (hợp với vị trí điều hành). (5) Tự đến xin, mang theo bản trình bày năng lực bằng văn bản.
Bản trình bày năng lực. Hãy soạn nó như một bản luận cứ của luật sư, và thuê người giỏi viết. Nội dung gồm:
- Học vấn (học gì, vì sao).
- Kinh nghiệm (tên, địa chỉ các chủ cũ; chi tiết liên quan).
- Thư giới thiệu (bản sao thư của chủ cũ, thầy cô, người có tiếng).
- Một tấm ảnh mới chụp, không dán khung.
- Xin một vị trí CỤ THỂ (đừng bao giờ ghi "một vị trí").
- Nêu năng lực của bạn cho đúng vị trí đó (đây mới là phần xin việc thật).
- ĐỀ NGHỊ LÀM THỬ không lương một tuần hoặc một tháng, dựa trên niềm tin vào năng lực của mình, vào quyết định của chủ, và quyết tâm của bạn.
- Cho thấy bạn hiểu công việc kinh doanh của nhà tuyển dụng nhờ đã tìm hiểu.
Dài cũng không sao; sự gọn gàng cho thấy bạn chu đáo. Hãy đóng bìa chuyên nghiệp, có trang tiêu đề ("Bản trình bày năng lực của ___ ứng tuyển vị trí ___"), đổi tên cho từng công ty, dùng giấy tốt nhất. Nó là "người bán hàng" của bạn trong bộ vest đẹp; hãy đưa bản sao cho các văn phòng việc làm. Có những bản trình bày đã giúp người ta được nhận mà không cần phỏng vấn.
Bảy bước để có đúng vị trí mình muốn. (1) Quyết định CHÍNH XÁC công việc bạn muốn, nếu chưa có thì tự tạo ra. (2) Chọn công ty hoặc người. (3) Tìm hiểu chính sách, con người, cơ hội thăng tiến của nhà tuyển dụng. (4) Phân tích bản thân và những gì bạn có thể MANG LẠI. (5) Quên câu "ông có việc cho tôi không?", hãy tập trung vào những gì mình cho được. (6) Nhờ một người viết có kinh nghiệm đưa kế hoạch lên giấy. (7) Trình nó cho người có quyền quyết định. Cách này tiết kiệm từ một tới năm năm. Những ai khởi đầu ở lưng chừng đều nhờ lập kế hoạch (trừ con trai ông chủ).
Công việc là quan hệ đối tác. Tương lai thuộc về "Quy tắc Vàng, chứ không phải Quy tắc của Vàng". Chủ, thợ VÀ công chúng mà họ phục vụ đều là đối tác; thời mặc cả giữa chủ và thợ trên lưng công chúng (ông chủ thật sự) đã qua. Hill minh họa sự đổi thay trong văn hóa phục vụ bằng ngành đường sắt, người soát vé xe điện và tài xế xe buýt, ngân hàng (những cánh cửa gỗ gụ đã bị dỡ bỏ), chuỗi cửa hàng so với hàng tạp hóa kiểu cũ, và người đọc đồng hồ gas. Ông dẫn một nghiên cứu ở vùng than antraxit: lòng tham của cả chủ mỏ lẫn công đoàn đã đẩy giá than lên tới mức người ta chuyển sang lò đốt dầu. Theo Hill, Khủng hoảng có nguyên nhân: thói quen khắp thế giới muốn gặt mà không gieo, dịch vụ kém cả về chất lẫn lượng, muốn "NHẬN MÀ KHÔNG CHO". Luật nhân quả cũng chi phối từng cá nhân.
Công thức QQS. CHẤT LƯỢNG + SỐ LƯỢNG + TINH THẦN hợp tác = nghệ thuật bán dịch vụ hoàn hảo; hãy biến nó thành thói quen. Chất lượng là làm từng chi tiết chu đáo nhất có thể. Số lượng là thói quen cung cấp mọi dịch vụ bạn có thể và ngày càng tăng thêm. Tinh thần là cách cư xử dễ chịu, hòa hợp, khiến người khác muốn hợp tác. Carnegie rất coi trọng sự hòa hợp: ông không giữ ai không dễ chịu, dù người đó làm ra bao nhiêu. Cách cư xử dễ mến có thể bù cho chỗ thiếu về chất và lượng, còn không gì thay được nó.
Giá trị vốn của dịch vụ bạn (The Capital Value Of Your Services)
Từ "go-getter" tới "go-giver". Người bán dịch vụ cũng là một thương nhân và chịu cùng những luật lệ. "Thời của người chỉ biết giành giật đã qua, thay bằng người biết cho đi." Để ước tính giá trị vốn của bộ óc mình, hãy nhân thu nhập năm với 16 2/3 (coi thu nhập là lợi tức 6% trên vốn). Bộ óc không bị đánh cắp và không mất giá vì khủng hoảng; tiền thì "vô giá trị như một đụn cát" cho tới khi được trộn với bộ óc hiệu quả.
Ba mươi nguyên nhân chính của thất bại. Hill phân tích vài nghìn người, 98% trong số đó thất bại, và rút ra 30 nguyên nhân thất bại để đặt cạnh 13 nguyên tắc thành công. Hãy tự soi mình:
- Gốc gác di truyền bất lợi (thứ duy nhất khó sửa; hãy bù bằng Master Mind).
- Không có mục đích rõ ràng (98 trên 100 người được phân tích không có).
- Không có tham vọng vượt khỏi sự tầm thường.
- Học vấn không đủ (sửa được; học vấn là kiến thức được áp dụng; người tự lập thân thường là người có học nhất).
- Thiếu kỷ luật bản thân ("tấm gương cho bạn thấy người bạn tốt nhất và kẻ thù lớn nhất").
- Sức khỏe kém (ăn quá nhiều, thói quen suy nghĩ tiêu cực, dùng sai tình dục, không tập thể dục, thở không đúng).
- Môi trường thời thơ ấu xấu.
- Trì hoãn ("Lão Trì Hoãn"; hãy bắt đầu ngay chỗ bạn đứng với những gì bạn có).
- Thiếu bền bỉ (giỏi khởi đầu, kém về đích).
- Tính cách tiêu cực (đẩy người khác ra xa).
- Không kiểm soát được ham muốn tình dục (hãy chuyển hóa nó).
- Muốn có gì đó mà không bỏ ra gì, máu cờ bạc (như đầu cơ ký quỹ năm 1929).
- Thiếu khả năng quyết định (người thắng quyết nhanh, đổi chậm; người thua thì ngược lại).
- Một hay nhiều trong sáu nỗi sợ cơ bản.
- Chọn sai người bạn đời.
- Quá thận trọng (hoặc quá liều).
- Chọn sai đối tác hay chủ.
- Mê tín và định kiến.
- Chọn sai nghề.
- Thiếu tập trung (biết mọi nghề mà chẳng giỏi nghề nào).
- Tiêu xài bừa bãi (hãy để dành một tỷ lệ cố định; tiền tiết kiệm cho ta can đảm khi mặc cả).
- Thiếu nhiệt tình.
- Thiếu khoan dung (tôn giáo, chủng tộc, chính trị).
- Thiếu điều độ (ăn, uống, tình dục).
- Không biết hợp tác (làm mất việc nhiều hơn tất cả nguyên nhân khác cộng lại).
- Có quyền lực không phải do tự mình gây dựng (thừa kế tài sản; giàu nhanh còn nguy hiểm hơn nghèo).
- Cố ý gian dối.
- Tự cao và hão huyền.
- Đoán mò thay vì suy nghĩ.
- Thiếu vốn (không có dự trữ để đỡ những sai lầm).
- (Bạn tự thêm nguyên nhân của mình.)
Biết mình. Hãy nhờ người hiểu bạn kiểm tra danh sách này cùng bạn; "Hỡi con người, hãy tự biết mình". Hill kể một ứng viên không có mức lương cố định trong đầu, rồi từ chối đề nghị "trả theo giá trị của anh sau một tuần làm thử" vì anh ta vốn đang được trả nhiều hơn thế. Hãy chắc rằng mình đáng giá hơn trước khi đòi hơn; điều mình muốn không phải là điều mình đáng được. Giá trị nằm ở dịch vụ hữu ích hoặc khả năng khiến người khác phục vụ.
Tự kiểm kê bản thân (Take Inventory Of Yourself)
Hai mươi tám câu hỏi. Hill khuyên tự phân tích mỗi năm một lần (vào cuối năm, để làm nền cho những quyết tâm năm mới), với một người kiểm tra thẳng thắn. Các câu hỏi xoay quanh: đã đạt mục tiêu năm chưa; chất và lượng của dịch vụ; tinh thần hòa hợp; thói trì hoãn; tính cách; sự bền bỉ; quyết định nhanh; sáu nỗi sợ; quá thận trọng hay quá liều; quan hệ với đồng nghiệp; sự tập trung nỗ lực; đầu óc cởi mở; năng lực có tiến bộ không; thiếu điều độ; tự cao; có được đồng nghiệp tôn trọng không; phân tích hay đoán mò; có lập ngân sách thời gian, chi tiêu, thu nhập không; thời gian lãng phí và cách sắp xếp lại; lương tâm; có cung cấp dịch vụ NHIỀU HƠN và TỐT HƠN mức được trả không; có công bằng với người khác không; nếu tự mua dịch vụ của mình thì có hài lòng không; có đúng nghề không; chủ có hài lòng không; và tự chấm điểm theo các nguyên tắc nền tảng của thành công. Hill nói chương này cũng giúp các giám đốc nhân sự đánh giá con người.
"Phép màu" đã mang lại những phúc lành này (The "Miracle" That Has Provided These Blessings)
Nước Mỹ và các quyền tự do. Phần này bàn về nơi và cách tìm cơ hội. Nước Mỹ cho người ta tự do tư tưởng, học hành, tôn giáo, chính trị, nghề nghiệp, sở hữu, nơi ở, hôn nhân, đi lại, và tự do nhắm tới bất cứ vị trí nào (kể cả tổng thống). Hill kiểm kê đời sống một gia đình trung bình thập niên 1930: bữa sáng cho hai người ở Quảng trường Thời đại (nước ép, ngũ cốc lúa mì, trà, chuối, bánh mì nướng, trứng, đường, bơ và kem, với nguyên liệu từ Florida, Kansas, Trung Quốc, Nam Mỹ, Utah, Cuba, New England) chỉ tốn tổng cộng 20 xu, kể cả thuế. Căn hộ có sưởi hơi nước, điện, gas giá 65 đô la mỗi tháng (20 đô la ở nơi khác); quần áo dưới 200 đô la mỗi năm; đồ điện tiện nghi; radio; đi lại giữa các bang không cần hộ chiếu; tiền gửi ngân hàng được bảo vệ.
Phép màu tên là vốn. "Phép màu" đứng sau những phúc lành ấy là VỐN, không chỉ là tiền mà là những nhóm người có tổ chức, thông minh (nhà khoa học, nhà phát minh, kế toán, luật sư, chuyên gia vận tải) lên kế hoạch dùng tiền sao cho vừa ích lợi cho công chúng vừa có lãi. Không có họ, muốn có bữa sáng kia bạn phải bơi sang tận Trung Quốc, Cuba, Nam Mỹ. Nhà tư bản là những người có trí tưởng tượng, niềm tin, nhiệt huyết, quyết đoán và bền bỉ; họ giàu nhờ cung cấp dịch vụ không thể thiếu. Hill nói ông không bênh mọi nhà tư bản, cũng không công kích thương lượng tập thể. Mục đích của ông là cho thấy (1) người muốn giàu phải thích nghi với hệ thống đang nắm cánh cửa tới gia tài, và (2) phản bác những chính khách mô tả vốn có tổ chức như thuốc độc.
Phê phán theo quan điểm thập niên 1930. Hill cho rằng chính phủ, chính khách và lãnh đạo công đoàn liên kết chống lại công nghiệp đã kéo dài Khủng hoảng. Nhiều người muốn "nhận mà không cho": công đoàn đòi giờ làm ngắn hơn, lương cao hơn, người ta đòi trợ cấp. Ông kể giai thoại những người nhận trợ cấp phàn nàn vì ngân phiếu được giao lúc 7 giờ 30 sáng. "Chỉ có một cách đáng tin để tích lũy và giữ của cải một cách hợp pháp: cung cấp dịch vụ hữu ích." QUY LUẬT KINH TẾ là một quy luật tự nhiên, không ai thắng được nó; vi phạm nó thì kết cục là viên cảnh sát trưởng tới cửa (hoặc một kẻ độc tài với đội xử bắn). Ông lấy giai đoạn suýt sụp đổ 1929 tới 1935 làm bằng chứng.
Cơ hội ở khắp nơi. Hill liệt kê những ngành người Mỹ chi tiền vào (mỹ phẩm, thiệp chúc mừng, thuốc lá, phim ảnh, thể thao, kẹo cao su, lưỡi dao cạo) để nói rằng cơ hội có ở khắp nơi. "Nước Mỹ tư bản bảo đảm cho mọi người cơ hội cung cấp dịch vụ hữu ích và thu về của cải tương xứng với giá trị dịch vụ đó." Hãy bước lên, chọn lựa, lập kế hoạch, hành động và kiên trì.

