Tóm tắt: Quy tắc 10.000 giờ nghe dễ nhớ, nhưng chính người làm nghiên cứu gốc nói nó là một cách hiểu quá đơn giản. Thứ làm người ta giỏi lên là luyện có chủ đích: mục tiêu rõ, tập trung hết, có phản hồi nhanh, và tập ngay chỗ mình còn yếu. Ngày 4 của chuỗi 30 ngày Kiên nhẫn là về sự kiên nhẫn với kiểu luyện chậm và hơi khó chịu đó.
Quy tắc 10.000 giờ từ đâu ra?
Năm 1993, Anders Ericsson cùng hai đồng nghiệp là Ralf Krampe và Clemens Tesch-Römer đăng một nghiên cứu trên tạp chí Psychological Review. Họ hỏi các sinh viên violin ở Học viện Âm nhạc Tây Berlin, chia thành ba nhóm theo trình độ, ước tính mỗi tuần họ tự luyện đàn một mình bao nhiêu giờ, từ năm bắt đầu học.
Cộng lại tới năm 18 tuổi, nhóm giỏi nhất trung bình khoảng 7.410 giờ luyện một mình, nhóm giỏi khoảng 5.301 giờ, và nhóm sau này nhiều khả năng đi dạy nhạc khoảng 3.420 giờ. Tính tới năm 20 tuổi, hai nhóm đầu đã vượt hơn 10.000 giờ, theo một bài phân tích lại nghiên cứu này năm 2019.
Năm 2008, Malcolm Gladwell viết cuốn Outliers và đưa con số 10.000 giờ tới hàng triệu người đọc. Từ đó, nhiều người hiểu nó thành một luật: cứ đủ 10.000 giờ là thành chuyên gia.
Chính Ericsson nói gì về quy tắc đó?
Năm 2016, Ericsson viết cuốn Peak cùng nhà báo khoa học Robert Pool. Trong sách, ông nói rõ quy tắc 10.000 giờ là một cách phổ biến hóa nghiên cứu của ông, và nó sai ở nhiều chỗ. Con số 10.000 không có gì đặc biệt. Mỗi nghề cần số giờ khác nhau. Quan trọng hơn hết, giờ luyện này khác xa giờ luyện kia.
Ông phân biệt mấy kiểu luyện. Kiểu thường gặp nhất là làm đi làm lại cái mình đã biết. Làm như vậy lâu năm thì mình nhanh hơn, quen tay hơn, nhưng thường dừng ở một mức nào đó rồi không lên nữa. Kiểu ông gọi là luyện có chủ đích thì khác. Nó có bốn phần:
Mục tiêu cụ thể. Ví dụ "đường viền gel ở góc móng cái phải đều hai bên", thay cho câu chung chung "làm móng đẹp hơn".
Tập trung hết. Luyện ngắn mà chú tâm tốt hơn luyện dài mà vừa làm vừa nói chuyện.
Phản hồi nhanh. Có ảnh để so, có người chỉ ra chỗ sai, hoặc có một tiêu chuẩn rõ để tự chấm.
Ra khỏi vùng quen một chút. Tập ngay chỗ mình còn yếu, khó vừa đủ để phải cố, không khó tới mức bỏ cuộc.
Ericsson cũng nói về hình dung trong đầu. Người giỏi có trong đầu một hình mẫu rất rõ về việc làm đúng trông như thế nào, nên họ thấy được lỗi mà người mới không thấy. Luyện có chủ đích là cách xây cái hình mẫu đó.
Luyện tập có quyết định hết không?
Không, và mình nghĩ nói thẳng chuyện này mới công bằng. Năm 2014, Brooke Macnamara, David Hambrick và Frederick Oswald gom 88 nghiên cứu lại trong một phân tích tổng hợp đăng trên Psychological Science. Họ thấy luyện có chủ đích giải thích khoảng 12% khác biệt về thành tích nói chung. Con số này thay đổi theo lĩnh vực: khoảng 21% với âm nhạc, 18% với thể thao, và dưới 1% với các nghề nghiệp nói chung.
Kết luận của họ là luyện tập quan trọng, nhưng không quan trọng tới mức người ta từng nói. Theo cách mình hiểu, điều này không làm luyện tập mất giá. Nó chỉ nhắc mình đừng hứa với ai rằng cứ chăm là chắc chắn thành nghệ nhân. Còn những thứ khác nữa: thầy dạy, môi trường, sức khỏe, may mắn. Nhưng trong những thứ đó, cách mình luyện là phần mình chọn được.
Kiên nhẫn nằm ở đâu trong chuyện này?
Ở Ngày 3, mình nói về thói quen nhỏ cộng dồn như lãi kép. Ngày 4 thêm một ý: thói quen nhỏ phải đúng chỗ thì mới cộng dồn ra tay nghề.
Làm thêm một bộ móng y như hôm qua thì dễ. Nó cho cảm giác chăm chỉ. Còn ngồi 15 phút tập lại đúng một động tác mình làm chưa tốt, chụp hình so, thấy nó vẫn xấu, rồi tập tiếp thì khó chịu hơn nhiều. Kiên nhẫn ở đây là chịu được sự chậm và hơi khó chịu của kiểu luyện đó, ngày này qua ngày khác. Ngồi chờ năm tháng trôi qua thì dễ hơn nhiều.
Áp dụng vào nghề nail thế nào?
Người thợ đang học gel-x, đắp bột hay vẽ móng. Thay vì làm thêm một bộ đầy đủ theo cách cũ, lấy móng giả ra tập đúng một động tác yếu nhất trong 15 phút. Chụp hình trước và sau, đặt cạnh một mẫu mình muốn đạt tới.
Người thợ mới đang học theo thợ lâu năm. Mỗi ngày xin đúng một lời góp ý cho một việc cụ thể. Một câu hỏi rõ như "chỗ này em dũa sai ở đâu" dễ nhận câu trả lời thật hơn câu "chị thấy em làm được không".
Người đang tập tiếng Anh để nói với khách. Chọn ba câu hay dùng nhất, ghi âm giọng mình, nghe lại rồi so với một bản mẫu. Đó cũng là phản hồi nhanh.
Việc làm ngay hôm nay
Thực hành hôm nay: chọn đúng một động tác yếu nhất trong công việc của bạn. Tập nó 15 phút với một mục tiêu rõ. Chụp hình hoặc quay lại bản trước khi tập và giữ nó lại, để tới Ngày 30 đem ra so. Nếu Ngày 3 bạn đã gắn một thói quen hai phút vào chuỗi buổi sáng, cứ giữ nó, rồi đặt 15 phút này ngay sau.
Câu hỏi để viết nhật ký tối nay: "Mình đã làm việc này bao lâu rồi, và năm nay mình thật sự giỏi hơn ở điểm nào?"
Ngày mai, Ngày 5: Kiên nhẫn với khách khó, thở trước khi trả lời.
Đọc thêm trên trang: Ngày 1: Kiên nhẫn không phải là ngồi chờ, Ngày 2: Thí nghiệm kẹo dẻo, Grit, và các tập podcast.
Bản đầy đủ (sắp có): lộ trình 30 ngày, workbook PDF, audio đầy đủ, Hỏi đáp.
Câu hỏi thường gặp
Quy tắc 10.000 giờ có đúng không?
Theo chính Anders Ericsson trong cuốn Peak, đó là một cách hiểu quá đơn giản về nghiên cứu của ông. Con số 10.000 không có gì đặc biệt, mỗi nghề cần số giờ khác nhau, và giờ luyện có chủ đích khác xa giờ làm lặp lại. Làm lâu mà không có mục tiêu thì thường dừng ở một mức.
Luyện tập có chủ đích là gì?
Đây là kiểu luyện Ericsson mô tả trong Peak. Nó có mục tiêu cụ thể, tập trung hết sức, có phản hồi nhanh và luôn ở sát ngoài vùng quen của mình. Với người làm móng, đó có thể là 15 phút tập riêng một động tác yếu trên móng giả, có ảnh để so trước và sau.
Nghiên cứu violin năm 1993 tìm thấy gì?
Ericsson, Krampe và Tesch-Römer hỏi sinh viên violin ở Tây Berlin ước tính số giờ tự luyện. Tới 18 tuổi, nhóm giỏi nhất trung bình khoảng 7.410 giờ, nhóm sau này đi dạy nhạc khoảng 3.420 giờ. Tới 20 tuổi, hai nhóm giỏi đã vượt hơn 10.000 giờ, và con số đó về sau thành quy tắc nổi tiếng.
Luyện tập giải thích được bao nhiêu phần tài năng?
Theo phân tích tổng hợp của Macnamara, Hambrick và Oswald năm 2014, luyện có chủ đích giải thích khoảng 12% khác biệt về thành tích nói chung, khoảng 21% với âm nhạc và dưới 1% với các nghề nghiệp. Luyện tập quan trọng, nhưng còn nhiều thứ khác. Dù vậy, cách mình luyện là phần mình chọn được.
Nguồn
- Anders Ericsson & Robert Pool, Peak: Secrets from the New Science of Expertise (Houghton Mifflin Harcourt, 2016)
- Ericsson, K. A., Krampe, R. T., & Tesch-Römer, C. (1993). The role of deliberate practice in the acquisition of expert performance. Psychological Review, 100(3), 363-406
- Macnamara & Maitra (2019), phân tích lại nghiên cứu 1993, Royal Society Open Science
- Macnamara, B. N., Hambrick, D. Z., & Oswald, F. L. (2014). Deliberate practice and performance in music, games, sports, education, and professions: a meta-analysis. Psychological Science
- Malcolm Gladwell, Outliers (Little, Brown, 2008)

